CHÚA GIÊSU ĐỒNG HOÁ VỚI NGƯỜI NGHÈO HÈN
| CHÚA NHẬT XXXIV THƯỜNG NIÊN NĂM A (Lễ Chúa Kitô vua) CHÚA GIÊSU ĐỒNG HOÁ VỚI NGƯỜI NGHÈO HÈN (Mt 25,31-46) |
| ĐÀO SÂU |
| 1. Ai là người bị phán xét? |
| Theo c.32, thì người bị phán xét là các dân thiên hạ, nhưng các dân thiên hạ là ai? Các nhà chú giải Thánh Kinh không đồng ý với nhau về điểm này. Người thì cho là dân ngoại, người lại cho là kẻ đã được nghe Tin Mừng, có người lại cho là toàn thể nhân loại. |
| a/ Dân ngoại: Có một số tác giả nghĩ rằng các dân thiên hạ ở đây nhằm dân ngoại. Họ chủ trương như thế dựa vào những lý lẽ sau: |
| - Đó là ý nghĩa của từ “các dân” trong ch.24-25 |
| - Israel rõ ràng là đã bị lên án rồi (21,43; 22,7; 23,38 ; 24,2) lúc Mt viết đoạn này nói về chiên và dê. Trong Tin Mừng cả Mt không có chỗ nào ông chiêm ngắm một sứ vụ cho dân tộc Do Thái: vậy nếu người Do thái không bao gồm trong các dân tộc thì kiểu nói này chỉ bao gồm dân ngoại mà thôi. |
| - Người Kitô hữu không bao gồm trong từ “các dân tộc” bởi vì họ đã được phán xét dựa vào tiêu chuẩn đã nêu ra ở những phần tước (24,36; 25,30), còn trong phần này thì viễn tượng có khác. |
| b/ Đa số các nhà phê bình thì lại nghĩ rằng kiểu nói các dân thiên hạ là chỉ toàn thể nhân loại. Ta thu các lý lẽ của họ vào hai loại: |
| - Không thể nào tưởng tượng được rằng những người, xét về mặt lịch sử, đã có trách nhiệm về cái chết của Con Người (Mt 25,27), lại không có mặt lúc Con Người chiến thắng kẻ thù của Người (Mt 26,64). |
| - Trong Mt ở những chỗ khác, chẳng hạn Mt 18,26-30 thì kiểu nói các dân thiên hạ có một nhãn quan phổ quát mà chắc chắn là nó ôm trọn nhân loại không trừ ai. |
| - Légassé và một số nhà chú giải khác chọn lập trường trước nhưng lại thay đổi lập trường ấy ở điểm then chốt. Theo họ thì các dân thiên hạ là chỉ toàn thể nhân loại, nhưng đó là nhân loại đã được rao giảng Tin Mừng trước (có nghĩa là đã nghe Tin Mừng rao giảng mà đã có thể chấp nhận hoặc từ chối). |
| Lập trường này dựa trên sự kiện ở Mt 24,14, Đức Giêsu tuyên bố “Tin Mừng này về Nước Trời sẽ được loan báo khắp thiên hạ để làm chứng trước mọi dân tộc . Và bấy giờ cùng tận sẽ đến”. |
| Chúng ta có thể đưa ra nhận định sau đây chống lại quan niệm này. Bản văn của Mt vừa mới trích dẫn không nhất thiết có nghĩa là mọi cá nhân sẽ được nghe Tin Mừng và sẽ có cơ hội để nhận hay từ chối Đức Kitô được nhìn nhận một cách minh nhiên. Đoạn Tin Mừng ấy chỉ muốn nói rằng Tin Mừng sẽ được rao giảng cho mọi dân tộc.Đó là một sự kiện là có nhiều cá nhân trong một dân tộc nhất định có thể chẳng bao giờ đã được nghe đến Tin Mừng vì chẳng bao giờ loan tới họ. |
| 2. Chúa Giêsu phán xét thế nào? |
| a/ Ngài căn cứ vào đâu để ấn định thưởng phạt ? Tiêu chuẩn của lần phán xét cuối cùng rất hay. Một cách gián tiếp những tiêu chuẩn ấy nói cho chúng ta hay: Thiên Chúa mà nhân danh Ngài Đức Giêsu phán xét là Thiên Chúa nào? |
| Chúng ta ngạc nhiên thấy rằng Thiên Chúa hầu như lãnh đạm đối với những gì mà con người đã làm cho riêng Ngài. Chúa Giêsu không thấy lên án ai vì những điều mà chúng ta gọi là những tội như lộng ngôn phạm thánh, lỗi những bổn phận về tôn giáo, có những hành vi mê tín, ma thuật, thờ ngẫu tượng… Trái lại, Chúa Giêsu lại cực quan tâm đến bất cứ một cái gì mà con người làm cho người hèn mọn nhất trong họ mà Ngài gọi là anh em của Ngài. Chúng ta có thể thấy một cách rõ ràng ở đây Thiên Chúa hoàn toàn vị tha theo nghĩa nào. Ngài không phải là một vị vua lưu ý đến vinh dự của Ngài. Ngài tuyệt đối chẳng cần nhiều thứ của chúng ta. Nếu người đòi chúng ta thờ lạy tôn kính là chỉ vì chúng ta tìm thấy sự hoàn thành sâu xa nhất trong việc hiến dâng chính chúng ta cho Đấng là nguồn suối cuối cùng của hiện hữu, là lý do hiện hữu của chúng ta. Thánh Tôma viết: “Thiên Chúa tìm sự vinh danh của Ngài không phải cho chính Ngài nhưng là cho chúng ta”. Lòng thương xót của Ngài đối với những người yếu hèn nhất mà Ngài coi là anh em của Ngài xuất phát từ cùng một trái tim liên hệ đến các tạo vật của Ngài. Mỗi tạo vật quý giá trước mặt Ngài. |
| Trong dụ ngôn về ngày chung thẩm, sự khắt khe của Thiên Chúa chỉ là mặt bên kia của tình yêu của Ngài. Căn cứ như thế là căn cứ vào tình yêu đích thực, Tình yêu đích thực là tình yêu vô vị lợi: yêu thương những người hèn mọn, nhất là yêu thương những người không có khả năng trả ơn mình. Đó là tình yêu vô vị lợi, tình yêu này còn vô vị lợi ở chỗ người yêu không biết người hèn mọn là Chúa Giêsu nên không chờ mong trả công thiêng liêng (chúng ta thì khác, thường làm việc bác ái vì mong trả công). |
| Căn cứ như thế là căn cứ vào một tình yêu giống tình yêu của Chúa Giêsu, giống Chúa Giêsu ở tính cách vô vị lời cũng có mà giống Ngài ở đối tượng cũng có (những người nghèo hèn, khốn khổ). |
| b/ Cách Chúa Giêsu phán xét giúp ta hiểu giới răn thứ hai như thế nào? |
| Như chúng ta đã chia sẻ ở Chúa Nhật 30( Mt 22,34-40). Luật yêu người vừa được Chúa Giêsu đặt ngang luật yêu Chúa (Mt 22,35) (chú thích 17 Cha Vị), vừa được Ngài dùng để tóm thâu lề luật và các tiên tri “Mọi điều các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cả các ngươi nữa cũng hãy làm cho người ta như thế. Lề luật và các tiên tri là thế” (Mt 7,12). Thánh Phaolô cũng nói lại ý của Chúa Giêsu như thế (Rm 13,8-10). Cách Chúa Giêsu phán xét cho chúng ta thấy rõ giới răn thứ hai thâu tóm luôn giới răn thứ nhất: yêu người mặc dầu không biết người ấy là Chúa thì đã là yêu Chúa rồi. |
| c/ Từ cách Chúa Giêsu phán xét, chúng ta có thể rút ra những hệ quả nào? Chúng ta có thể rút ra 3 hệ quả: |
| - Cho việc sống đạo. - Cho việc dạy giáo lý. |
| - Phân biệt người có đạo dấu chỉ người có đạo hay không có đạo phải chăng là phép Rửa hay lòng yêu mến. Yêu như Chúa Giêsu yêu: “ Như Thầy đã yêu mến các con, các con cũng hãy yêu mến nhau. Chính nơi điều này mà mọi người sẽ biết các con là môn đề của Thầy là các con có lòng yêu mến nhau” (Ga 13, 35). |
| . Sống đạo: Người đạo đức không phải là người năng đi nhà thờ, năng lần hạt, năng xưng tội rước lễ mà là người yêu thương mọi người như Chúa yêu. Như vậy phải chăng nên dẹp bỏ các việc đạo đức ta vẫn làm? Nếu những việc ấy không giúp ta sống giới răn yêu thương hơn thì thiết tưởng nên dẹp bỏ, vì trong trường hợp ấy các việc đạo đức quen làm chỉ còn là những phương tiện để sống giả hình, chỉ còn là bức màn dầy để che mắt người che mắt mình, để cho mình ngủ kỹ trong đêm tối, còn nếu các việc ấy giúp ta yêu người hơn thì chẳng những phải duy trì mà còn phải củng cố và phát huy, như vậy phải duyệt lại cách sống đạo, cách đi lễ… phải duy trì các thói quen đạo đức trong chiều hướng phát triển tình yêu đối với tha nhân, đặc biệt là đối với những người nghèo hèn bé mọn. |
| . Dạy giáo lý: Khi dạy đạo cho người, thì điều quan trọng là phải giúp cho người ta yêu tha nhân. Bình thường ta ít chú trọng về điểm này, có khi quên luôn, lẽ ra phải lấy điểm này là một trong những điểm trung tâm mới phải. Phải cho người học đạo hiểu rằng lề luật của Đức Kitô gồm thâu vào luật yêu thương. |
| d/ Cách Chúa Giêsu phán xét được nói ở đây giúp chúng ta hiểu gì hơn về lời khuyên tỉnh thức ở các dụ ngôn cánh chung? |
| Tỉnh thức là ở trong trạng thái yêu thương. |
| 3. Bài này giúp ta hiểu gì hơn về Chúa Giêsu? |
| a/ Ngài vừa là thẩm phán tối cao vừa đồng hoá với người nghèo hèn, đau khổ. |
| - Thẩm phán tối cao: Ta chỉ có thể thán phục vẻ uy nghiêm bình tĩnh của Chúa Giêsu khi diễn tả mình ở đây. Ngài là một chú thợ mộc khiêm tốn ở Nazaret, thế mà một ngày kia sẽ là vì thẩm phán tối cao phán xét cả nhân loại. Một lần nữa, đoạn Tin Mừng này buộc người đọc Tin Mừng phải lựa chọn thái độ đối với Đức Giêsu: hoặc Ngài chỉ là một kẻ rất mơ mộng, một kẻ mắc chứng hoang tưởng tự cao tự đại mà ngày nay được cơ chế hoá – hoặc Ngài đúng như Ngài nói: “còn về phần các con, các con bảo Thầy là ai ? (Mt 16,15). |
| - Ngài đồng hoá với người hèn mọn. Muốn hiểu rõ điều này, trước hết chúng ta phải hiểu cụm từ: “Một trong các anh em hèn mọn nhất này của Ta” là ai? Ai là anh em hèn mọn nhất của Ta? Có nhà chú giải cho kiểu nói ấy chỉ vị thừa sai Kitô giáo, có nhà chú giải lại cho là người nghèo túng thiếu thốn nói chung. |
| b/ Việc Chúa Giêsu đồng hoá với nhưng người hèn mọn có gì liên quan đến tôi không? |
| Từ nay tôi sẽ đi tìm Chúa Giêsu ở đâu, nếu không phải là ở các anh em nghèo hèn. Nếu cảnh nghèo đói của anh em, cảnh túng thiếu của anh chị em không phải là mối bận tâm của tôi, không phải là mối lo âu của tôi thì những hành vi đạo đức khác như đi lễ, đi nhà thờ, lần hạt, cúng tiền… Phải được tra hỏi lại cẩn thận về ý nghĩa của nó. Có thực đó là những hành vi đạo đức hay chỉ là những cách tìm mình tinh vi mà thôi? |
| Suy thêm |
| 1. Bản thân tôi, gia đình tôi hay cộng đoàn tôi đã và đang quan niệm và sống luật yêu người như thế nào? Tôi có cần điều chỉnh lại quan niệm và lối sống của tôi hay không? |
| 2. Bản thân tôi, gia đình tôi và cộng đoàn tôi đã và đang cư xử với những người nghèo khó, thiếu thốn như thế nào? Tôi có cần điều chỉnh lại những cách cư xử ấy hay không? |
| Lm. Phêrô Phạm Hữu Lai, Sj |


