TĨNH TÂM TẠI CHỦNG VIỆN

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 1603 | Cật nhập lần cuối: 3/3/2017 3:19:48 PM | RSS

1956

TĨNH TÂM TẠI CHỦNG VIỆN

VENISE, 11/15/1956

1. Vì hành hương Fatima (9/15-5-1956), nên không dự được cuộc tĩnh tâm các giám mục. Nay, nhân dịp các linh mục giáo phận tĩnh tâm, tôi tham gia. Giảng phòng là ĐGM Pardini, giám mục Jesi, chuyên môn giảng tĩnh tâm cho giáo sĩ.

Nhưng gần gũi các linh mục, phải biết sự khó của các ngài, nên tôi mất sự yên tĩnh để lo cho chính tôi. Từ nay về sau, tôi sẽ hẹn để gặp các linh mục ở nơi khác, vào lúc khác, riêng tôi, nhất định sẽ tĩnh tâm với các giám mục, để yên tĩnh mà lo cho linh hồn mình.

2. Năm nay tôi tiếp tục điều đã dốc lòng, là luôn tiến bộ về đời sống siêu nhiên: cầu nguyện theo phận vụ giáo sĩ, phục vụ Hội thánh và các linh hồn. Ngày lại ngày: sẽ thêm dịu dàng, nhẫn nại, bác ái; bất cứ với giá nào dù phải bị coi là hạng vô dụng, là con số không.

Ơn rất lớn Chúa ban, là tôi vẫn xem mình kém tài đức, để tôi đừng kiêu hãnh, ăn ở đơn sơ, không nên trò cười cho thiên hạ.

Nếu vì tin chắc ở Tin mừng, và nơi sự hiền lành và khiêm nhường mà Chúa Giêsu đã dạy trong đó, mà tôi phải trở nên trò đùa cho thiên hạ, tôi cũng sẵn lòng; dĩ nhiên là không hèn yếu và ngớ ngẩn. Tham vọng và ham thăng chức chỉ do lòng ích kỷ và thất bại.

Tĩnh tâm chung với linh mục, phải tiếp các đấng nghe trình bày tâm sự, mất hết cả giờ để lo phần hồn của mình. Tuy tôi thích giảng tĩnh tâm, nhưng với điều kiện là phải có đủ thời giờ để chuẩn bị xa và chuẩn bị gần.

Kỷ niệm Fatima và những nguồn an ủi tôi được bên ấy, làm cho tôi liên tưởng đến luật Chúa dạy: “Hãy báo Tin Mừng cho người nghèo, chữa lành những tâm hồn tan nát” (Lc 4,18)

1957
TĨNH TÂM VỚI CÁC GIÁM MỤC

TORREGLIA, 2-7/6/1957

1. Xin cho con ánh sáng lúc chiều về (Hymnus Nona). Tôi đã 76 tuổi, đã về chiều, sống là ơn cao trọng Cha trên trời ban cho. Các đồng bạn sang bên kia đã gần hết; chuẩn bị lượt tôi. Tôi không sợ chi.

Một trong 5 anh em ruột của tôi, em áp út đã chết. Sống lành, chết lành. Tuy còn khỏe, mạnh; nhưng vẫn chuẩn bị để thưa lại khi Chúa đến.

2. Tuổi già là một đặc ân, khiến tôi thầm vui và hằng ngày phó thác cho Chúa là cha đang giang tay chờ đón con mình.

3. Trường thọ, cuộc sống của tôi như cuộn tơ được tháo dần, đơn giản và trong lành. Không khó gì khi phải lặp lại rằng tôi không ra chi, chỉ là con số không vô dụng.

Sinh bởi cha mẹ mẹ nghèo, mọi sự do Chúa sắp đặt cho cả. Khi còn là linh mục trẻ, cúi đầu hôn chân tượng Thánh Phêrô, tôi đã thích câu “vâng lời sẽ được bình an: oboedientia et pax, của Lin Baronius” nên tôi đã để Chúa hành động, dẫn dắt hoàn toàn đúng thánh ý Chúa. Do đó tôi rất bình an hoàn toàn phó thác cho lòng lân mẫn của Chúa. Ngài đã muốn tôi làm linh mục, Ngài đã tha thứ mọi lỗi lầm sơ suất vô số trong đời tôi, và giữ tôi còn sống khỏe mạnh tới giờ nầy.

4. Tôi tin rằng Chúa giữ tôi lại cho tới nay, là để tinh luyện tôi, bằng bất cứ cơn đau nào trên thể xác, nỗi khổ nào trong tinh thần, để đưa tôi vào hạnh phúc vĩnh cửu. Con xin chấp nhận tất cả để làm sáng danh Chúa, lợi ích cho các linh hồn, đặc biệt cho những kẻ Chúa giao phó cho con. Con biết mình hèn yếu, nên hoàn toàn tin ở ơn Chúa nâng đỡ. “Đạo binh trắng của hàng tử đạo chúc tụng Chúa” (Te Deum)

5. Vào thiên đàng có hai cửa: trắng trong và sám hối. Là phàm nhân yếu đuối, ai bảo đảm là mình vào cửa số một ? Chính Đức Kitô đã vào bằng cửa số hai, vai vác thánh giá, đền tội muôn dân, cửa nầy chắc chắn, Chúa mời ta vác thánh giá đi theo, tức phải sám hối, chịu đòn và tự đánh đòn mình.

Tuy được an ủi trong chức giám mục, nhưng dịp hãm mình đền tội không thiếu. Xin chấp nhận – Lắm lúc đau khổ, con đã thưa với Chúa: “Bị nhục là có lợi cho con”, nhớ lời nầy của Thánh Augustinô làm cho con vững tâm.

1958 TĨNH TÂM

22-26/9/1958

1. Trên đồi Grappa, các cha dòng Cavanis đã ưu ái tiếp đón chúng tôi tĩnh tâm, có cha chính, và bộ tham mưu của tôi, vài cha xứ, một số linh mục trẻ. ĐGM Signora, giám mục Pompei được tôi mời giảng phòng. Con người của ngài cao lớn, nhưng giọng nói lại nhỏ, tôi phải nghiêng tai, khó khăn mới nghe được. Giáo thuyết đẹp, trình bày khéo, sốt sắng thật và chân thành.

2. Tuy nhiên, một lần nữa, tôi thấy cần “nơi tịch mạc” cho hồn tôi để “nghỉ ngơi một chút” (Mc 6,31). Để làm vui lòng anh em tĩnh tâm, chính tôi lại phải nói về các đề tài: Sống đời linh mục; cái đầu của linh mục; năm điểm của Faenza; trái tim, tâm tính và miệng lưỡi của linh mục, đặc biệt nhấn mạnh về “hiền lành và khiêm nhường”, miệng lưỡi thì nói nhiều bài giảng và lễ độ.

Không, tĩnh tâm kiểu nầy không được. Phải sống một mình, xa bộ tham mưu. Thinh lặng, lo cho linh hồn mình mà thôi.

3. Đã cao niên, cẩn thận đừng nhận giảng ngoài giáo phận. Phải viết trước, khổ lắm, và luôn luôn nhớ mình kém tài kém đức. Xin Chúa giúp và tha thứ cho con.

1959 TĨNH TÂM TẠI VATICAN

MÙA VỌNG 29/11 – 5/12/1959

1. Từ ngày, dù tôi bất xứng, Chúa đã muốn tôi làm Giáo hoàng, để phục vụ trong địa vị lớn lao, tôi tự cảm thấy mình không còn gì là riêng biệt trong đời sống: gia đình, tổ quốc trần thế, dân tộc, chiều hướng trong vấn đề tự học, kế hoạch, dù tốt mấy vẫn phải lệ thuộc vào tính chất phổ cập. Làm Giáo hoàng, hơn mọi lúc, tôi càng cảm thấy rõ mình kém tài kém đức, đúng là “tôi tớ của các tôi tớ Chúa”. Gia đình bây giờ là thế giới bao la. Ý nghĩ “tôi là người của thiên hạ” đã làm cho trí khôn, tâm hồn và hành động của tôi thêm mạnh mẽ sống động.

2. Cái nhìn bao quát thế giới, đem lại tình cảm mới trong sự sống cầu nguyện liên tục hằng ngày, không đứt đoạn như: thánh lễ, nhật tụng, lần chuỗi 150, viếng Thánh Thể, với những cách thế làm cho tôi liên kết luôn với Chúa Giêsu là bạn thân tình của tôi.

Một năm làm Giáo hoàng, một năm kinh nghiệm đem về ánh sáng và khích lệ để tôi đặt lại đường lối cho đúng, sửa chữa, thúc đẩy cách kín đáo và nhẫn nại để trong mọi lãnh vực đều được sự hoàn hảo.

3. Cảm ơn Chúa vì trên hết các ơn, Chúa đã ban cho con sự bình an và không sợ hãi vô lý. Con cảm thấy mãi mãi muốn vâng lời trong hết mọi sự, từ việc lớn đến việc nhỏ, nhờ vậy mà sức hèn mọn của con trở thành sức mạnh đến mạo hiểm, nhưng trong sự đơn sơ, đúng tinh thần Tin mừng khiến mọi người trên thế giới kính nể và; nên gương tốt cho mọi người “Lạy Chúa, con bất xứng. Xin Chúa nên sức mạnh và niềm vui cho lòng con. Chúa thương xót con”.

4. Con bỡ ngỡ vì thấy những ai tới gần con, họ dễ gặp sự tâm đồng ý hợp. “Biết mình” đó làm điều cho con yên tâm và canh giữ mình. Bí quyết thành công về điểm nầy ở tại “đừng dây mình vào những việc quá sức con” (Hc 3,23), và yên tâm sống “hiền lành và khiêm nhượng thật lòng”. Có thật sự hiền lành và khiêm nhường, ta mới được cái hồn nhiên khi đón tiếp, hầu chuyện, đối xử và chịu đựng cách nhẫn nại biết thông cảm, thinh lặng và khích lệ quen đi, và không bỡ ngỡ vì những cái bất ngờ mà Chúa năng gửi đến cho người Chúa yêu, thường thì Chúa thích thử thách họ bằng nhiều đau khổ, bệnh tật trên thể xác, chua chát trong tâm hồn, những cảnh trái ngược để cải tạo và hoàn tất trong sự tử đạo cuộc sống của tôi tớ Chúa, đồng thời cũng là tôi tớ của các tôi tớ Chúa.

Tôi hằng nhớ Đức Piô IX, cuộc sống lành thánh và vinh quang, tôi cần noi gương hy sinh của ngài để xứng đáng chủ tọa cuộc phong thánh cho ngài.

5. Nhiệm vụ số một hiện nay; là phải duyệt lại “chúc thư” để chuẩn bị giờ sau hết mà tôi hằng thích nhớ tới. Làm chúc thư rõ ràng: chúc thư của một giáo hoàng nghèo, đơn giản, ngay trong cách viết. Nội dung đã xong chỉ thêm vài chi tiết. Gương của giáo hoàng vừa là sự khích lệ, vừa cảnh tỉnh các vị hồng y. Chết mà không có “chúc thư hẳn hoi” đó là cái sai lầm đối với giáo sĩ, và cũng là cái đáng sợ trước sự đời đời.

1960 TĨNH TÂM TẠI VATICAN

Từ 27/11 đến 3/12/1960

Cuộc sống giáo hoàng của tôi hai năm qua đã thêm mạnh rõ ràng về điểm hồn nhiên sốt sắng kết hiệp cùng Chúa Kitô, với Giáo hội, với hạnh phúc vĩnh cửu đang chờ đợi tôi.

Chúa ban cho con ơn trọng, là được bình thản; mọi người nói con luôn luôn yên tĩnh, nhờ đó con suốt ngày tiếp tục sống đơn sơ, dịu hiền, và hơn nữa con đang sẵn sàng bàn giao tất cả để ra đi vĩnh viễn.

Hằng ngày con dâng thánh lễ đền tội cho mọi lỡ lầm sơ suất, làm phiền Chúa và thiếu sót nhiệm vụ. Đó là lý do làm cho con mãi mãi hạ mình không sao kiêu hãnh được, nhưng càng tin tưởng phó thác nơi Chúa vì Chúa đang nâng niu, bảo trợ và khích lệ con.

“Biết mình, chưa rõ mấy đã quá xấu hổ, làm gì dám nghĩ đến chỗ khoe mình” (Hồng y Federico)

“Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ” (Tv 30,2).

Bắt đầu 80 tuổi, việc phải làm là: hạ mình trước mặt Chúa, tin tưởng chờ đợi Chúa nhân từ mở cửa hạnh phúc vĩnh cửu cho con vào.

Giêsu, Maria, Giuse, xin cho hồn con ra đi bình an trong ba đấng.

Giảng phòng là ĐGM Scavizzi. Ngài giảng tựa trên tư tưởng Tân ước; khéo trình bày về đời sống căn bản của giáo sĩ, về nhiệm vụ của những giáo sĩ làm việc trực tiếp cạnh Tòa thánh. Dự tĩnh tâm có 18 hồng y, 58 giám mục và giáo sĩ nhân viên của Vatican. Tôi không gặp các đấng, nhưng ai cũng cho rằng các ngài tĩnh tâm sốt sắng.

Trước khi ban phép lành tòa thánh, tôi đã cám ơn giảng viên về ba điểm: giảng viên sốt sắng, thay đổi, gợi chân trời mới về Palestina, vừa sốt sắng vừa thành công trong cú đánh khôn và đánh mạnh.

a) Đối với Hội đồng (Synode) Rôma, về cái nhìn đối với hội thánh thế giới về Tân ước.

b) Khi nói về lòng tôn sùng yêu mến Thánh Thể, ngài trình bày rất dịu dàng, êm ái. Tất cả vừa bổ ích vừa xây dựng.

1961 TĨNH TÂM DỊP TÁM MƯƠI TUỔI

CASTELGANDOLFO 10-15/8/1961

NGÀY 10/8/1961

Hôm nay tôi lệnh cho ngưng mọi công vụ giáo hoàng, thinh lặng hoàn toàn. Cùng tĩnh tâm có ĐGM Cavagna, người giải tội thường xuyên của tôi. Hồi 5 giờ 45 sáng, lễ Thánh Lôrenxô, tôi nguyện kinh trên sân thượng, hướng về Rôma.

Tuy 57 năm đã qua, mỗi lần ngày 10/8 trở về, là sống lại trong lòng tôi ngày thụ phong linh mục, tại đền Đức Mẹ công trường Dân chủ. Từ đó đến nay, mỗi ngày tôi càng hạ mình xấu hổ vì sự hư không của mình “Xin Chúa thương xót” (Tv 58,18).

Lối tĩnh tâm nầy ra ngoài thông lệ. Linh hồn tôi hoan hỷ vì ơn cao cả Chúa ban, tuy buồn khổ vì đã đáp ứng với sức lực quá nghèo nàn không tương xứng với ơn đã lãnh nhận. Thật là mầu nhiệm, khiến tôi vừa run sợ vừa cảm động.

Sau lễ mở tay nơi mồ Thánh Phêrô, tôi vào yết kiến Đức Piô x, ngài đã đặt tay trên đầu tôi, chúc phúc cho ngày đầu của cuộc đời linh mục của tôi; và nay, hơn nửa thế kỷ qua, giờ nầy tay tôi giơ trên đầu, không những anh em trong, mà cả ngoài Công giáo trên khắp thế giới; đây là cử chỉ dịu dàng của một người cha chung của cả nhân loại. Tôi là người kế vị của Đức Piô X, nay được phong thánh. Tôi tiếp tục sống chức vị linh mục của ngài và cũng là của các vị tiền nhiệm như các kẻ kế vị, tất cả chúng tôi, như Thánh Phêrô, đã được tôn lên để hướng dẫn và an ủi toàn thể Hội thánh, duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền của Chúa Kitô.

Mỗi tiếng trên đây đều là lành thánh, vượt xa mọi lời ca tụng trần thế; càng làm cho tôi thấy rõ sự hư không cùng tận của tôi, nhưng đã được nâng lên trong chức vụ vượt mọi sự cao sang, mọi địa vị trần gian.

Nhớ lại, ngày 28/10/1958, khi các Hồng y chỉ định tôi gánh trách vụ cao cả điều khiển Hội thánh thế giới của Chúa Kitô, lúc đó tôi đã 77 tuổi, ai cũng truyền miệng bảo nhau rằng tôi chỉ là một giáo hoàng giao thời. Nhưng về thời gian, nay đã bốn năm rồi, và một kế hoạch vững chắc lại đang được đưa ra trước mặt thế giới, họ đang nhìn tôi và trông chờ. Phần tôi, như Thánh Martinô “tôi không sợ chết và cũng không từ chối sống thêm”.

Dù chết đột ngột hay sống thêm bao lâu, tùy Chúa. Đã 80 tuổi, tôi rất sẵn sàng: hoặc sống, hoặc chết; và sống chết cũng phải cách thánh thiện. Mọi người khắp thế đều gọi tôi là “Đức Thánh Cha”, đó là tiếng gọi cao đẹp nhất; tôi muốn và phải thật sự là thánh.

THÁNH HÓA BẢN THÂN

Tuy còn xa, nhưng lòng vẫn cương quyết nên thánh. Lối nên thánh hợp với tính tình của tôi, tại Castelgandolpho nầy, tôi thấy có một bức họa với một trang sách đạo đức của Antôn, Rosmini, tựa đề “Nên thánh ở điểm nào?”. Trang sách viết như sau:

“Tư tưởng trọng đại cần nhớ về sự thánh thiện ở tại sự vui lòng chấp nhận bị người ta phản đối mạ lỵ dù mình đúng hay sai; vui lòng vâng phục; vui lòng chờ đợi trong sự bình tĩnh; gì cũng được miễn đẹp lòng thượng cấp, và thật sự không theo ý riêng; nhận sự kém tài bất xứng của mình; tỏ lòng rất biết ơn; cung kính mọi người, đặc biệt người của Chúa; sự thánh thiện ở tại đức ái chân thành, sự yên tĩnh, nhẫn nại, dịu hiền, muốn làm lành cho kẻ khác và sốt sắng làm việc. Tôi đã gần giờ lìa đời và tôi không thể nói nhiều hơn nữa, bấy nhiêu đã đủ” (Stressa 6.9.1840).

Để xây dựng sự thánh thiện của mình, tôi luôn áp dụng tôn chỉ của Baronius “Oboedientia et pax” Vâng lời và bình an. Chúa hằng ở với con, Chúa đã cho con tư tưởng này.

Bức tranh vẽ trên vải: la Pieta: Mẹ sầu bi ôm xác con dưới chân thập giá. Bức tranh nổi bật, trong các bức tranh trang hoàng nhà nguyện, với đề tài chung: các cảnh khổ nạn của Chúa, một bài học thường xuyên cho giáo hoàng. Đó là lý do để tôi càng xác tín về giáo thuyết đau khổ; khía cạnh mà giáo hoàng phải năng suy nhớ qua các mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Kitô: “Chịu khổ, chịu khinh bỉ vì Chúa Kitô, với Chúa Kitô”.

Đó là ánh sáng tôi đã tìm được để xây cuộc đời thánh thiện trong tuổi già: “Ý Chúa muốn tôi phải thánh hóa mình trong Chúa Kitô”, Ôi Giêsu, Chúa đã tự động bảo trợ con; con vui mừng dưới bóng đôi cánh Chúa. Hồn con theo sát Chúa, xin cánh tay mặt của Chúa nâng đỡ con (x. Tv 62,8-9).

NGÀY 11-8-1961

Xưng tội hằng tuần là việc tôi hằng làm suốt đời. Nhiều lần xưng tội tổng quát. Nay tôi xưng tội lại tổng quát, không vào chi tiết, nhưng đúng theo câu kinh dâng bánh: “để đền vì vô số lỗi lầm, sơ suất mất lòng Chúa”, xưng tất cả dù đã xưng lại nhiều lần, để lòng càng thêm hối hận và chê ghét các lỗi ấy.

TỘI

Về đức trong sạch. Suốt đời không bao giờ có lỗi trong hoặc riêng cá nhân hoặc vì thân thiện với ai. Dù mắt, chân tay, từ hồi mới lớn lên cho đến tuổi già, dù hình ảnh gây cám dỗ, không bao giờ có; đó là ơn Chúa nâng đỡ sự yếu hèn của tôi và tôi tin ơn Chúa sẽ tiếp tục bảo vệ tôi đến giây phút sau hết.

Về đức khiêm nhường ? Tôi tôn thờ và hằng thực hành đức nầy. Tuy nhiên khi bị coi thường, thâm tâm tôi vẫn có phản ứng. Phản ứng nầy tôi xin âm thầm chấp nhận để học tập thêm đức nhẫn nại, thêm dịp để đền tội, và cũng là phương thế để đền tội cho thế gian.

Về đức bác ái. Ít gặp khó khăn về điểm nầy; tuy nhiên lắm lúc cũng là dịp hãm mình, vì suýt mất nhẫn nại, và do đó, có thể một hai kẻ, vô tình sẽ phải gánh chịu đau khổ.

XÚC PHẠM.

Ai biết được bao lần tôi đã lỗi luật Chúa và luật Hội thánh, thật “nhiều vô kể”. Tuy nhiên, tôi không cố tình lỗi điều nặng, ngay cả trong điều nhẹ. Lòng trí tôi hằng quí mến luật Chúa, luật Hội thánh và luật đời; nhất là tôi hằng cẩn thận giữ gìn để làm gương cho thuộc hạ, để “xây dựng hàng giáo sĩ và giáo dân”.

Nếu có lỗi, tôi đã xưng tội, đã dốc lòng sửa chữa, và càng cao tuổi, tôi càng hằng ngày cố gắng giữ các thứ luật cách chín chắn.

SƠ SUẤT.

Thế nào cũng lắm sơ suất vì bao nhiêu nhiệm vụ của đời mục vụ và hiện nay của một giáo hoàng kế vị thánh Phêrô. Cả cuộc sống dài 80 tuổi với bao nhiêu “lỗi lầm, sơ suất” tôi đã thú nhận tất cả hồi sáng nầy với ĐGM Cavagna, người giải tội thường xuyên của tôi; ngay nơi phòng nầy, nơi mà các tiền nhiệm Piô XI, Piô XII, đã ở, và riêng Piô XII đã chết ở trong phòng nầy, ngày 9/10/1958, vị giáo hoàng duy nhất đã qua đời tại nhà nghỉ mát Castelgandolpho.

Xin Chúa Giêsu hằng thương xót con là kẻ có tội, con hằng tin tưởng ở sự đại từ bi vĩnh cửu của Chúa.

CÙNG NGÀY 11-8-1961. SAU KHI XƯNG TỘI

Mỗi tuần cứ thứ 6 hay thứ 7, là ngày tôi xưng tội kỹ càng, là ngày tôi bắt đầu lại cách mạnh mẽ để thánh hóa mình. Và nhất là tôi được sự bình an, nét đặc biệt do lòng nhân từ Chúa ban, và tôi sẵn sàng ra đi về chốn đời đời, nơi Chúa đang giang đôi tay chờ đón tôi.

Cha Rosmini kể lại rằng bề trên cả dòng Tên, Cha Caraffa, luôn để trước mặt ba bức thư: màu đen: ghi các tội; màu đỏ: ghi sự thương khó Chúa; mà trắng: nhắc sự vinh quang hạnh phúc. Ba điểm chính để suy gẫm. Theo cách ấy hằng ngày tôi luôn nhớ tội mình mà sám hối rửa sạch linh hồn; luôn tưởng nhớ sự khổ nạn trên thân xác và trong tâm hồn Chúa; mẫu thư màu trắng giúp tôi thắng mọi sự buồn, phiền vì các thánh đủ can đảm chu toàn nhiệm vụ giữa đau phiền, và đích thật là “những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18). Lời khuyên nhủ ấy là tất cả đường tu đức của Thánh Inhaxiô, trong quyền “Linh Thao” mà Cha Rosmini cho biết ngài hằng mang theo mình.

THỨ BẢY 12/8/1961. CHÚA CHỊU ĐÓNG ĐINH VÀ MẸ SẦU BI

Kỳ tĩnh tâm nầy, tôi quyết liệt nên thánh, vì là Kitô hữu, là linh mục, là giám mục mà hơn nữa là giáo hoàng, là “cha chung”, là “chủ chăn lành”, tuy hèn mọn bất xứng, nhưng Chúa đã muốn chọn.

Thú thật, tôi đã có lòng tôn sùng Máu châu báu để bổ túc cho sự tôn sùng Thánh Danh và Thánh Tâm Chúa. Đó là do bác Hai của tôi, bác Zaveriô đã dạy tôi kính Máu châu báu từ khi còn bé, tự nhiên tôi rất tôn sùng, và giữ như thế suốt đời linh mục. Bác tôi, riêng tháng 7, đều có quyển “Máu châu báu” nơi bàn quỳ của bác. Ngày nay, trong tuổi già, đột nhiên con nhớ bác, nhớ căn bản nên thánh của bác gieo vào lòng con, và con tin chắc, bác đang chờ con nơi cõi hằng sống. Bao lâu con còn sống, con sẽ dịu dàng và yên tĩnh đến quỳ dưới chân thánh giá đã thấm đẫm Máu châu báu Chúa và nước mắt đắng cay của Mẹ sầu bi.

Đó là tư tưởng, đột ngột trở lại mãnh liệt trong tôi, giúp tôi thêm sốt sắng, quảng đại, dưới ba điểm sau đây:

1. Hoàn toàn dứt khoát với mọi sự; khen hay chê, dù đời coi là quan trọng, tôi vẫn coi thường;

2. Tôi chỉ là tro bụi, tội lỗi; có sống là do lòng tư bi Chúa; tôi sẵn lòng chịu mọi đau khổ Chúa đã chịu với lòng tuân phục ý Chúa hoàn toàn, từ bây giờ và mãi mãi, trong hết mọi sự, tôi sẽ sống trong sự “vâng lời và bình an”;

3. Sẵn sàng sống và chết như hai Thánh Phêrô và Phaolô sẵn lòng nhận xiềng xích, đau khổ nhục mạ, tử đạo vì Hội thánh và vì mọi linh hồn đã được Chúa Kitô cứu chuộc. Tôi biết sự quan trọng của lời thề hứa nầy, tôi run sợ vì thấy mình hèn yếu. Nhưng tôi tin tưởng nơi Chúa chịu đóng đinh và nơi Đức Maria và ngưỡng vọng về cõi đời đời.

CHÚA NHẬT 13-8-1961. SUY TƯ VỀ ĐỨC KHÔN NGOAN CỦA GIÁO HOÀNG VÀ CÁC GIÁM MỤC

Tin, Cậy, Mến là ba sao sáng làm vinh quang cho giám mục. Giáo hoàng “nên gương đầu” và các giám mục cùng nên gương.

Giáo hoàng trên bình diện thế giới, giám mục trong giáo phận, chỉ biết lo giảng Tin mừng, lãnh đạo các linh hồn đi vào hạnh phúc đời đời, không bị việc đời chi phối, cản trở, gây khó khăn cho phận vụ chính. Đặc biệt xa chính trị, vì nó là mối gây chia rẽ trong mọi lãnh vực tư tưởng và xét đoán. Tin mừng chiếu sáng vượt trên mọi quan điểm của mọi đảng phải đang tác động và hành động nơi xã hội loài người. Giáo hoàng, giám mục cùng đọc và giải thích Tin mừng, không vì quyền lợi trần tục, nhưng cùng sống trong Hội thánh là Nước Chúa, nước hòa bình và hạnh phúc, nhờ lề luật của Chúa mà có hạnh phúc, qua Hội thánh đang có luật Chúa cao cả đủ sức lãnh đạo toàn thể thế giới chung sống hạnh phúc; và đây chính là điều mà mọi người thiện chí chờ mong nơi Giáo hội.

Ba năm qua, là tân Giáo hoàng tôi đã cố gắng sống xứng đáng, xin Chúa giúp con trung thành với đường lối nầy.

Cần nhấn mạnh xin các Giám mục cùng làm như vậy, và gương của giáo hoàng sẽ là khuôn vàng, khích lệ mọi người. Giám mục dễ bị lôi cuốn vào những việc vượt lẽ phải, giáo hoàng cần khuyên các vị đừng tham gia chính trị đảng phái, đừng nhảy vào các cuộc cãi vã, đừng tuyên bố ủng hộ phe phái nào. Sẽ rao giảng đồng đều cho mọi người cách tổng quát về sự công bình, bác ái, khiêm nhường, dịu dàng, hiền lành và các nhân đức theo Tin mừng, nơi nào quyền lợi Giáo hội bị xâm phạm, sẽ bênh vực cách khôn khéo.

Mọi lúc, đặc biệt lúc nầy, giám mục phải lấy sự dịu hiền như dầu xoa vết thương xã hội. Không xét đoán táo bạo, không nặng lời với bất cứ ai, không dua nịnh vì e sợ, không vì muốn làm vừa lòng ai mà đành chấp nhận sự sai trái của họ. Luôn luôn có thái độ kín đáo, nghiêm nghị và đứng đắn; cần đưa đề nghị cách dịu dàng và lịch thiệp đối với mọi người, với mục đích nêu rõ đâu là phải, đâu không phải, tuy nhiên không tấn công ai.

Mọi tìm tòi tính toán theo kiểu loài người trong các vấn đề trần tục chẳng có giá trị là bao. Trái lại, phải thúc giục tín hữu cầu nguyện liên lỉ, cầu nguyện nhiều qua Phụng vụ, phải khuyên họ năng lãnh nhận bí tích cách xứng đáng, học hỏi giáo lý, nhờ đó mà giải quyết lắm rắc rối hiện nay một cách công hiệu vượt mọi phương sách của loài người. Đó là cách kéo ơn Chúa xuống cho dân chúng, bảo vệ họ khỏi mọi tai ương, và đưa kẻ lầm lạc về lại đường ngay nẻo chính. Chúa sẽ ban ơn cứu độ, ban ánh sáng để dẹp tan bóng tối. Đó là những gì Rôsmini đã viết tại nhà Albani (Rôma) hôm 23.11.1848.

Đó cũng là ưu tư và tư tưởng của tôi trong trách nhiệm chủ chăn, hiện tại và mãi mãi.

CŨNG HÔM NAY 13.8.1961 - KHUYẾN CÁO VỀ HOẠT ĐỘNG TÔNG ĐỒ.

Khi đối xử với mọi người, phải tôn trọng họ cách khôn khoan và đơn sơ theo tinh thần Tin mừng. Ai cũng cho rằng, lời nói của Giáo hoàng dù rất thân mật cũng đượm vẻ huyền bí đáng kính sợ. Nhưng phải luôn noi gương Chúa Giêsu để ăn ở đơn sơ, hấp dẫn trong mức độ khôn ngoan của các hiền triết và các thánh. Xin Chúa giúp. Tuy kẻ gian, dù không dám khinh nhưng có coi thường sự đơn sơ chất phác mặc họ, đừng kể gì nếu họ có đôi cử chỉ hay đôi lời ý nhị để mạ lỵ ta, nhưng thường gậy ông đập lưng ông, họ phải xấu hổ gánh chịu việc họ làm. Ai “đơn sơ ngay thẳng, kính sợ Chúa” sẽ luôn luôn “xứng đáng hơn và mạnh mẽ hơn”, Với điều kiện là phải khôn ngoan, dè dặt và hòa nhã. Người đơn sơ không sợ tuyên xưng Tin mừng mọi nơi mọi lúc, trước mặt mọi người dù họ là hạng người cho Tin mừng là hèn yếu, ấu trĩ. Đừng để kẻ khác gạt gẫm, làm cho ta đoán xét sai lạc; dù ai có thái độ nào với ta, ta vẫn phải giữ tâm hồn thư thái bình tĩnh.

Khôn ngoan, tức biết giữ một phần sự thật khi chưa tiện nói ra, miễn là sự thinh lặng đó không giảm giá hoặc gây sự hiểu lầm cho một phần sự thật đã được tiết lộ. Khôn ngoan là biết đi đến mục đích mình đã lựa chọn bằng những phương pháp kiến hiệu để quyết định đúng và thi hành đúng. Khôn ngoan là biết tiên đoán và đo lường mọi khó khăn trở ngại có thể xảy ra, biết chọn con đường vừa phải để không gặp những trở ngại khó khăn quá lớn. Khôn ngoan là một khi đã nhắm một mục đích tốt đẹp, lớn lao, cao cả, sẽ không lạc hướng, nhưng biết vượt mọi trở ngại để làm cho được việc cách hoàn hảo. Khôn ngoan là, trong mọi vấn đề, biết đâu là điều chính, không loay hoay trong cái phụ; biết dồn hết toàn lực một cách liên tục chặt chẽ để đi cho tới cùng đích một cách tốt đẹp. Khôn ngoan là, từ khi bắt đầu, đã biết dâng và phó thác thành quả cho Chúa; dù có thất bại phần nào, hoặc thất bại hoàn toàn đi nữa, vẫn an tâm vì đã làm đúng, và biết quy hướng tất cả theo ý Chúa và cho vinh quang cao cả của Chúa.

Đơn sơ không đối nghịch với khôn ngoan, hay ngược lại. Đơn sơ đóng vai trò tình yêu, khôn ngoan là tư tưởng. Tình yêu cầu nguyện, trí thức canh phòng. “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện”. Cả hai hòa hợp cách hoàn hảo. Tình yêu như chim cu rủ rỉ, trí thức như con rắn không vấp ngã không va đầu, vì khi bò tới, đầu của rắn cất cao quan sát mọi trở ngại trên đường tiến.

Bình tĩnh trước mọi biến cố

Đấng lập Hội thánh, khôn ngoan, phép tắc và nhân từ vô biên, đã sắp xếp mọi biến cố để mưu ích cho người lành trong Giáo hội là phu nhân yêu quí của Chúa.

Dù biến cố có vẻ bất lợi cho Hội thánh, tôi vẫn bình tĩnh hoàn toàn, tuy nhiên vẫn tha thiết van nài cho “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.

Tôi không nghe những người táo bạo, trí thức mù quáng, kiêu căng lầm lạc, muốn làm được việc mà không cầu nguyện, y như Chúa cần nhờ vả họ. Trái lại giáo hoàng có nhiệm vụ trọng đãi bất cứ ai muốn cộng tác với Chúa để cứu rỗi các linh hồn trên khắp thế giới.

“Làm gì cũng phải nhắm tới đích”, tức là mục đích mà Chúa Quan phòng mầu nhiệm đã nhắc tôi lên ngôi giáo hoàng. Ơn gọi này đòi phải sáng chói trong ba điểm: sự thánh thiện cá nhân để đời giáo hoàng rạng rỡ; lòng yêu mến Hội thánh toàn cầu, tùy ơn Chúa mà làm cho Hội thánh được rạng rỡ; sau hết là sự thuận phục ý Chúa Kitô, chính Ngài điều khiển, lãnh đạo Giáo hội qua giáo hoàng để Hội thánh được vinh hiển cả ở trần gian và trong cõi trời vĩnh cửu.

Giáo hoàng hèn mọn sẽ tinh luyện ý tưởng mình trong ánh sáng vinh quang của Chúa; sống theo giáo thuyết và theo ơn Chúa để trở thành con người cao nhất được giống Chúa trong sự trọn hảo: một Chúa Kitô chịu đóng đinh đổ máu cứu chuộc nhân gian, giống Chúa Kitô là thầy chính thức của mọi dân mọi đời.

THỨ HAI 14/8/1961. SÁU CHÂM NGÔN ĐỂ NÊN TRỌN LÀNH

Muốn được hoàn hảo tôi phải:

1. ChỈ khao khát một điều là nên “công chính và thánh thiện” và nhờ đó mà làm đẹp lòng Chúa.

2. Hướng mọi tư tưởng, hành động của tôi vào sự phục vụ cho Hội thánh được lớn mạnh và vinh hiển.

3. Biết rằng Chúa gọi tôi, nên sẽ phải rất bình tĩnh trước mọi biến cố xảy ra cho tôi hay cho Giáo hội. Luôn miệt mài làm việc và chịu khổ vì Hội thánh.

4. Luôn luôn phó thác cho Chúa Quan phòng.

5. Luôn nhìn nhận tôi là không.

6. Mỗi ngày sắp xếp công việc rõ ràng có trật tự.

Đời sống linh mục, và là linh mục thượng phẩm của tôi, do phép Chúa và vì danh Chúa, luôn được đặt trước mắt Chúa, là chủ, là quan xét tôi. Chúa đang chịu treo thập giá, thân mình rách nát, tim Chúa bị mở toang, tay chân bị chọc phủng, Chúa đang nhìn tôi và mời gọi tôi nhìn lại Chúa. Vì công bình mà Chúa yêu thương. Vì yêu mà Chúa hy sinh. Đó là số phận của tôi: “Tớ không hơn thầy” (Mt 10,24).

Ôi Chúa Giêsu, nhìn Chúa đang quằn quại hấp hối, con cũng già, gần chấm dứt nhiệm vụ và chấm dứt cuộc đời. Xin cho con tựa sát vào tim Chúa, đập một nhịp với tim Chúa. Dây xích buộc con với Chúa là xích kết bằng những khoen tình yêu và tế nhị:

Thứ nhất là: công lý, buộc con gặp Chúa trong mọi sự.

Thứ hai: sự quan phòng và lòng nhân từ Chúa dẫn dắt con.

Thứ ba: lòng yêu người không bao giờ cạn và vô cùng nhẫn nại.

Thứ tư: hy sinh sẽ theo con và con muốn hy sinh trong mọi sự.

Thứ năm: vinh quang mà Chúa đã sắp xếp cho con bây giờ và mai sau.

“Lạy Cha nếu được, xin cho con khỏi chén đắng này, nhưng đừng theo ý con, chỉ theo ý Cha thôi” (Lc 22,4).

Tư tưởng I: Buồn khổ rất hữu ích.

Nhìn lại cuộc sống, với những khuyết điểm của nó, tôi nhìn nhận là Chúa chưa thử thách tôi như các linh hồn khác, những buồn khổ khiến cho việc phục vụ sự thật, công lý và đức ái trở nên khó khăn, không còn gì hấp dẫn . Những năm còn bé và lớn lên rất nghèo, nhưng con không ngờ mình nghèo, không lo âu về gia đình thiếu thốn, về sự học, ngay cả lúc cực kỳ nguy hiểm khi tòng quân ở đại thế chiến thứ nhất.

Con biết mình hèn mọn nhưng đi đâu cũng được tiếp đón tử tế, từ chủng viện Bergamô, rồi Rôma, mười năm đầu đời linh mục lại được Đức Cha trọng dụng ngay nơi quê sinh trưởng. Rồi năm 1921 về phục vụ tại Rôma, và nay 1961 cũng về Rôma. Chúa đã tử tế với con khắp nơi, mà nào con có làm gì khác hơn là vâng theo ý Chúa, không theo ý con.

“Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Người đã ban cho?” Vừa tự hỏi đã gặp ngay câu trả lời: “Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Đức Chúa” (Tv 115,12-13).

Tôi có ý nói đến sự đau khổ lớn lao, nhưng giờ nó chưa tới, tôi xin đón nhận chuỗi khổ đau lớn nhỏ Chúa đang gửi đến. Tôi vẫn cảm động đọc câu thánh vịnh 130:

“Lòng con chẳng dám tự cao,

mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi !

Đường cao vọng, chẳng đời nào bước,

việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu;

hồn con, con vẫn trước sau

giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình.

Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ,

trong con, hồn lặng lẽ an vui.

(Tv 130,1,2).

Ôi Chúa Giêsu, nếu những ngày tháng cuối đời có gì làm con nao núng thì đã có Chúa bổ sức cho con trong đau khổ. Con sẽ tiếp tục uống Máu thánh Chúa, chứa đựng nơi chén thánh là Tim Chúa. Máu Chúa bảo đảm phần rỗi và hạnh phúc đời đời cho con. “Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời” (2Cr 4,17).

Tư tưởng II: Làm phận sự hằng ngày. Đừng mất giờ đặt kế hoạch xa xăm.

“Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Hr 13,8).

Giáo hoàng với tinh thần bình tĩnh và vững chắc tựa trên chức vụ linh mục thượng phẩm, không cần đoán định gì tương lai, chỉ cần soi sáng và khích lệ tín hữu và những cộng sự viên của mình.

Vì Chúa Kitô là nguồn gốc của chức linh mục, linh mục của Cựu Ước chỉ là hình bóng của linh mục Tân Ước là Chúa Kitô. Linh mục hành động thay mặt Chúa Kitô. Đặc biệt giáo hoàng, đang mang ánh sáng, ân sủng và là hiện thân của Chúa Kitô, do đó tư tưởng, hành vi với bao nhiêu việc làm do chức vụ giáo hoàng đã quá nhiều cho ngày hôm nay, không cần gì phải tưởng tượng và lo âu cho tương lai, ra như đặt kế hoạch cho Chúa Kitô đang khi giáo hoàng chỉ là phụ tá, đại diện cho Ngài. Giáo hoàng an lòng cho số phận hiện tại, không âu lo đến tương lai, phó thác cho Chúa, không tính toán, dò đường theo lối thế gian.

Đã ba năm kinh nghiệm làm giáo hoàng: tôi đã run sợ, vì vâng lời chấp nhận ý Chúa qua tiếng nói của Hồng y đoàn, minh chứng tôi hằng trung thành theo khẩu hiệu: hoàn toàn phó thác cho Chúa cái hiện tại, và hết sức bình tĩnh trước cái tương lai.

Mọi sáng kiến tông đồ đều là hoàn toàn do Chúa âm thầm chỉ dẫn trong sự yên tĩnh và yêu thương, tôi chẳng có công lao gì cả, chỉ có vâng lời, để đừng là một khí cụ quá vô ích đối với vinh quang của Chúa.

Những lần tiếp xúc với các nhà lãnh đạo các cường quốc, hay những lần thăm viếng các địa sở nghèo nhân dịp mùa Chay, việc họp công nghị giáo phận Rôma, việc cắt cử nhiều hồng y mới thuộc các sắc tộc, rồi giờ đây cả cái chuyển động mênh mông, vừa vô tiền khoáng hậu vừa hết sức bức bách phải mở Công đồng chung, … tất cả cũng chỉ vì tôi lấy đức tin, khiêm nhường, sốt sắng tuân theo ơn soi sáng của Chúa, chính Chúa lãnh đạo thế giới, đưa nó về đến cùng đích cao cả nhất của sự sáng tạo, tái tạo và kiện toàn nó để đem lại ơn cứu rỗi và vinh quang đời đời cho các linh hồn và các dân tộc.

NGÀY 15.8.1961. LỄ MÔNG TRIỆU

Lễ này rất quí đối với lòng đạo đức. Tiên giáo hoàng Piô XII, đã tuyên bố tín điều này nhằm ngày 01/11/ 1950. Lúc đó là sứ thần ở Pháp, tôi đã được vinh dự về dự ngày long trong này tại công trường Thánh Phêrô.

Từ bé tôi đã được sống dưới ảnh Mẹ Mông triệu, rửa tội tại làng cũng nơi bàn thờ Mông Triệu. Sau làm khâm sứ ở Cận Đông giáo thuyết Mông triệu được chính thống giáo đề cao. Nên tuyên bố tín điều này đối với tôi không có gì bỡ ngỡ.

Bầu khí chính trị quốc tế hiện nay đe dọa hòa bình. Tôi đã dâng lễ tại Castelgandolfo cầu nguyện cho hòa bình, tham dự có đông tín hữu địa phương và du khách. Có cả các hồng Y Agagianian, ĐGM Sigismondi, nhiều nhân vật của bộ Truyền giáo. Mấy lời sau lễ, tôi đã nói lên tự đáy lòng sốt mến và cảm động. Hôm qua, qua các đài phát thanh thế giới, tôi đã giải thích cho giáo phẩm, giáo sĩ, giáo dân thế giới rõ lý do tại sao tôi kêu gọi họ hiệp với tôi để kêu cầu cùng Nữ trinh vinh quang với tước hiệu là Nữ vương hòa bình, đang bảo vệ hòa bình trên thế giới.

Nghi lễ ngắn nhưng thành công mỹ mãn, nhắc lại tư tưởng chính để bế mạc ngày tĩnh tâm của tôi là: “Nhờ Mẹ Maria, đến với Chúa Giêsu”. Đời tôi đã già lão, không còn tựa vào ai, hơn tiếp tục tựa vào Chúa Giêsu, con của Mẹ Maria, để tâm hồn tôi được an ủi và bổ sức.

Đặc biệt chú tâm chăm sóc niềm vui và sự trong sáng nội tâm nhờ đạo đức, dịu hiền và bác ái là ba điều căn bản cao cả tóm tắt đời hoàn thiện. Vẫn tiếp tục chu toàn cách sốt sắng về: thánh lễ, kinh thần vụ, lần chuỗi 150 để liên lỉ sống thân mật hơn với Chúa Giêsu, nhìn ngắm những bức ảnh Chúa từ ấu thơ tới lúc bị đóng đinh vào thập giá và được tôn thờ trong Thánh Thể. Nhật tụng là phương tiện để tôi luôn luôn đưa tâm hồn đến Chúa. Thánh Lễ nhận chìm hồn tôi trong Thánh Danh, Thánh Tâm và máu thánh Chúa. Ôi, thánh lễ mỗi buổi sáng là trạm nghỉ dịu ngọt dường nào.

Từ năm 1958 tôi đã dốc lòng và giữ mãi hằng ngày việc lần chuỗi 150, phương pháp giúp tôi trong ngày liên tục trầm lặng suy nghĩ đến tầm hoạt động bao la của hai nhiệm vụ chăn dắt và giảng dạy của giáo hoàng và là cha chung của mọi tâm hồn.

Gần bế mạc tĩnh tâm, tôi càng thấy rõ cách đầy đủ hơn về nội dung của nhiệm vụ giáo hoàng mà Chúa đã giao cho tôi.

Đại diện Chúa Kitô? Danh hiệu quá cao với tôi là con nhà nghèo, ba má quê mùa chất phác, tuy thật sự đạo đức. Đại diện Chúa Kitô: cũng là linh mục và là hy tế; chức linh mục làm tôi vui thỏa, nhưng hy tế làm cho tôi run sợ.

Con xin tận hiến sự sống, sự chết, và sự sống đời đời cho Thiên Chúa làm người. Trên đường đời, tôi năng dừng chân ở đồi Calvê để thăm nom Giêsu hấp hối với với Mẹ sầu bi; rồi tôi đến và ở lại với Chúa trong nhà tạm. Nhật tụng, ngày càng thêm quí đối với tôi, và nơi bàn làm việc hằng ngày tôi thưởng thức câu kinh Nhật tụng. Chuỗi Mân Côi, sự gẫm suy 15 mầu nhiệm, cộng với ý chỉ riêng cho từng chục, được tôi sung sướng thưởng thức khi gối quỳ trước Mình Thánh.

Để ghi nhớ những ơn soi sáng đặc biệt của kỳ tĩnh tâm nầy tôi xin ghi lại 3 điểm rõ rệt để hằng ngày hầu chuyện với Chúa Kitô:

1. Sáng: Nhật tụng đọc xong giờ nhất và giờ ba rồi dâng lễ. Sau lễ: giờ sáu, chín; lần chuỗi 50 mùa vui.

2. Trưa: Viếng mình Thánh sau ăn trưa. Nghỉ một chút trên ghế dài, không bao giờ lên giường.

3. Chiều: Nhật tụng: kinh chiều, kinh tối; lần chuỗi 50 mùa thương trước Mình Thánh và kể như là viếng Thánh Thể.

4. Tối: lần chuỗi 50, mùa mừng, hồi 19 giờ 30 với nhân viên Vatican gồm có thư ký, các nữ tu, người giúp việc. Chầu phép lành Mình Thánh kể như là kinh tối.

Về điểm: hiền lành và khiêm nhường trong lời nói, thì cảm ơn Chúa, không có gì phải thêm. “Chúa Thánh Thần đang ở, nói và hành động trong chúng tôi, Ngài bao phủ giáo sĩ và giáo dân với đức nhẫn nại lớn lao và yêu thương chân thành”. (1Cr 12,11; 2 Cr 6,4). Tôi đọc thêm “Kinh cầu cho thế giới” của Đức Clemente XI, gốc người Albani, đặc biệt ngài mến Thánh Giuse, Ngài qua đời đúng lễ Thánh Giuse vào ngày 19/3/1721.

“Simon, con Gioan, con có mến Thầy hơn các anh em nầy… mến Thầy… con có mến Thầy không ? ” (Ga 21).

KẾT LUẬN

Cha giải tội Đức cha Cavagna, có nhắc tôi sự việc Chúa hỏi Phêrô và bảo; “Hãy chăn dắt chiên con, chăn dắt chiên mẹ cho Thầy” (Ga 21.15.27).

Qua lời nầy, Chúa ban cho giáo hoàng quyền “chăn dắt thế giới”. Do đó: yêu là trung tâm điểm và Phêrô đã thề hứa chắc chắn.

Đức ái bảo vệ, trang điểm và làm linh động đời sống và hoạt động của giáo hoàng. Hội thánh tựa trên một Giêsu thấy được: là giáo hoàng; và một Giêsu thiêng liêng mắt phàm không còn thấy. Biết rằng Giêsu yêu giáo hoàng đại diện của Ngài, thật là êm đềm vinh dự, tuy cũng tủi cho phận hèn hư không của mình.

Tôi sống cho tình yêu Chúa và hy sinh cho mỗi người và thế giới nói chung. Câu chuyện Tin mừng về tình yêu giữa Giáo hoàng và Chúa Kitô, và yêu Chúa trong mọi người, trực tiếp dạy giáo hoàng phải hiến thân chịu khổ. Như lời Chúa tâm sự với Phêrô: “Thầy nói thật, khi còn trẻ, con tự thắt lưng và đi đâu tùy ý; nhưng khi về già, con phải giơ tay lên, để kẻ khác thắt lưng cho và dẫn con đến nơi con không muốn” (Ga 21,18).

Nay đã 80 tuổi, con vẫn chưa được vào hưởng “cái già” Chúa nói đó mà vẫn đang ở ngưỡng cửa. Con sẵn sàng hy sinh không hạn chế, dù là mạng sống và nhận cái chết là cửa đưa vào cõi hằng sống. Đây, con giơ tay lên, đôi tay đã yếu và run rẩy, kẻ khác mặc áo và nâng con bước đi. Còn cái “nơi con không muốn tới”, cái đó không có, vì chính Chúa mở lối, con sẽ “theo Chúa trên các nẻo đường Chúa đi” (Mt 8,19), dù là đi đến chỗ hiến tế, khổ hình và chết. “Cái chết bảo đảm cho số phận đời đời hạnh phúc”.

Ý tưởng cái chết đến gần đưa con về với Thánh Giuse, vị bảo trợ đặc biệt của người sắp chết, với sự trợ lực của Giêsu và Maria mà ngài đã có phúc đồng hành khi còn sống.

Con xin kết thúc trang ghi lại cuộc tĩnh tâm bằng câu kết mà Hội thánh hát mừng Thánh Giuse.

“Xin Ba Ngôi chí cao, tha thứ cho kẻ nguyện cầu;

“Vì công lao của Thánh Giuse xin cho con vào thiên quốc,

“Để rồi chúng con được mãi mãi lặp lại,

“Bài ca cảm tạ của lòng chúng con tri ân” Amen.