TÔNG SẮC CÔNG BỐ NĂM THÁNH VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT (P3)
| TÔNG SẮC CÔNG BỐ NĂM THÁNH VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT Misericordiae Vultus – Dung Nhan Lòng Thương Xót |
| 19. Ước chi lời tha thứ sẽ vươn tới được tất cả mọi người, và lời mời gọi hãy để cho Lòng Thương Xót được hoạt động nơi mình, sẽ đưa tới chỗ không có người nào không mủi lòng. Lời mời gọi quay về của Cha, với sự nhấn mạnh một cách mãnh liệt hơn, xin được hướng về tất cả những ai đang ở xa Thiên Chúa vì lối sống riêng của mình. Ở đây, Cha nghĩ một cách đặc biệt tới những người nam và những người nữ mà họ là thành viên của một tổ chức tội phạm mà tổ chức tội phạm ấy cũng đồng nghĩa với những người đó. Để có được sự thiện hảo riêng cho anh chị em, Cha xin anh chị em: Hãy thay đổi cuộc sống của mình! Nhân danh Con Thiên Chúa, Đấng – mặc dầu đã chiến đấu chống lại tội lỗi – nhưng không bao giờ khước từ một tội nhân nào, Cha xin anh chị em điều ấy. Anh chị em đừng sa vào chiếc cạm bẫy kinh khủng với việc tin rằng, mọi sự trong cuộc đời đều tùy thuộc vào tiền bạc, và rồi dẫn tới chỗ tin rằng, tất cả mọi thứ khác đều không có giá trị, đều không có phẩm giá. Điều đó chỉ là một ảo tưởng! Không ai có thể mang được tiền bạc của mình sang thế giới bên kia. Và tiền bạc không dẫn tới niềm hạnh phúc đích thực. Bạo lực, khi được sử dụng, cũng sẽ không đưa tới sức mạnh đích thực, và rồi hoàn toàn không bất diệt. Dù trước hay sau gì đi nữa, thế nào cũng có lúc cuộc phán xét của Thiên Chúa sẽ đến với tất cả, không người nào có thể trốn khỏi cuộc phán xét ấy. |
| Tôi cũng hướng lời mời gọi như thế tới những người bảo trợ và những người đồng lõa với sự tham ô. Vết thương đang mưng mủ này của xã hội chính là một trọng tội đang kêu thấu tới trời, vì nó hủy hoại nền tảng của cuộc sống cá nhân và xã hội. Sự tham nhũng cướp đi mất niềm hy vọng vào tương lai của con người, vì trong sự tàn nhẫn và trong sự thèm muốn của mình, nó hủy hoại những kế hoạch tương lai của những người yếu đuối, và nghiền nát những người nghèo. Đó là một tội ác, mà nó bắt đầu với việc xâm nhập vào trong những điều nho nhỏ trong cuộc sống hằng ngày, rồi sau đó phát tán một cách rộng rãi, và đôi khi trở nên rõ ràng như trong những vụ việc lớn. Sự tham nhũng chính là một sự ở lỳ trong tội lỗi, mà tội lỗi ấy nhắm tới việc thay thế Thiên Chúa với ảo tưởng về quyền năng của tiền bạc. Nó là một công việc của bóng tối, được hỗ trợ bởi sự nghi kỵ và quỷ kế. Thánh Grê-gô-ri-ô Cả đã nói với lý do chính đáng rằng, Corruptio optimi pessima (tham nhũng điều tốt nhất là một sự tồi tệ nhất). Ngài nói như thế để chỉ ra rằng, không có người nào được miễn nhiễm khi đối diện với cơn cám dỗ ấy. Và để loại trừ nó ra khỏi cuộc sống riêng tư cũng như cuộc sống công cộng, đòi hỏi phải có sự khôn ngoan, sự canh chừng, sự trung thành với luật lệ, cũng như phải có tính minh bạch và sự can đảm để đặt ngón tay vào trong vết thương. Ai không chiến đấu một cách công khai với sự tham nhũng thì sớm muộn gì người ấy cũng sẽ trở thành những kẻ đồng lõa, và rồi sẽ hủy hoại cuộc sống. |
| Đây là cơ hội thuận lợi để thay đổi cuộc sống của mình! Đó là khoảnh khắc để làm cho mình được gây xúc động từ trong con tim. Khi tận mắt chứng kiến những điều ác đã bắt đầu, cũng như khi tận mắt chứng kiến những trọng tội, điều đó có nghĩa là thời điểm đã đến để lắng nghe tiếng than khóc của những con người vô tội mà người ta đã cướp đi những điều tốt lành của họ, cướp đi phẩm giá của họ, cướp đi mối thiện cảm hay cướp đi chính cuộc sống của họ. Tiếp tục đi theo con đường tội ác thì chỉ là nguồn cội của những ảo tưởng sai lạc và sự bi thảm. Sự sống đích thực là một điều chi đó hoàn toàn khác. Thiên Chúa không bao giờ trở nên mệt mỏi trong việc giơ cánh tay của Ngài ra. Ngài luôn luôn sẵn sàng lắng nghe, và kể cả Cha cũng như các anh em của Cha trong hàng Giám mục và Linh mục, cũng luôn sẵn sàng lắng nghe như vậy. Việc đón nhận lời mời gọi trở về và sự tuân phục đức công chính sẽ chỉ đủ nếu như Giáo hội giới thiệu Lòng Thương Xót. |
| 20. Trong mối liên hệ này, sẽ không là điều vô nghĩa khi chỉ ra mối tương quan giữa đức công bình và Lòng Thương Xót. Ở đây, nó không phải là hai khía cạnh tương phản, nhưng là hai chiều kích của một thực tại duy nhất, mà chiều kích ấy tiếp tục phát triển cho tới khi nó đạt được cao điểm của mình trong sự viên mãn của Tình Yêu. Công lý là một đề cương có tính căn bản của xã hội dân sự, mà trong đó, cứ sự thường, người ta liên can đến một quy tắc pháp luật, mà trong khuôn khổ của nó, pháp luật được áp dụng. Nhờ vào công lý, người ta cũng hiểu rằng, bất cứ một ai đó cũng đều phải được trao cho cái mà nó thuộc về họ. Trong Kính Thánh, người ta nói rất nhiều về công lý của Thiên Chúa cũng như nói về Thiên Chúa như là một vị thẩm phán. Ở đây, công lý được hiểu một cách chung chung là việc thực hiện theo toàn thể lề luật, và là thái độ của một người Israel tốt lành nào đó chiếu theo giới luật của Thiên Chúa. Nhưng cách nhìn này không hiếm khi dẫn tới một sự vận dụng các điều khoản quy định một cách cứng nhắc, bằng cách là người ta trình bày sai ý nghĩa nguyên thủy và làm mờ tối ý nghĩa sâu xa của đức công chính. Để thắng vượt cách nhìn cứng nhắc, cần thiết phải nhớ lại rằng, trong Kinh Thánh, đức công chính chủ yếu được hiểu như là một sự phó thác hoàn toàn và đầy tin tưởng vào Thánh Ý Thiên Chúa. Chính Chúa Giê-su cũng đã thường xuyên nói về tầm quan trọng của Đức Tin hơn là nói về sự tuân thủ lề luật. Và trong ý nghĩa này, chúng ta phải hiểu những lời của Ngài, khi Ngài trả lời cho những người Pha-ri-siêu đang muốn chỉ trích Ngài vì Ngài đồng bàn với Mát-thêu cũng như đồng bàn với những nhân viên ngành thuế và những người tội lỗi khác: “Hãy đi học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế.” Vì tôi đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi (Mt 9,13). Khi chứng kiến một cái nhìn về đức công chính như là sự tuân thủ lề luật mà trong những trường hợp sau này, nó phân định con người thành thánh nhân hay tội nhân, Chúa Giê-su đã cố gắng minh chứng về ân sủng vĩ đại nơi Lòng Thương Xót, mà Lòng Thương Xót ấy kiếm tìm tội nhân cũng như giới thiệu cho tội nhân ơn tha thứ và sự chữa lành. Người ta sẽ hiểu được lý do tại sao Chúa Giêsu lại bị khước từ bởi những người Pharisêu và các Luật sĩ, chỉ vì một viễn tượng có tính giải thoát như thế, mà viễn tượng ấy lại là nguồn cội của sự đổi mới. Trong việc tuân giữ của họ đối với lề luật, những con người này chỉ đặt lên vai người khác những gánh nặng, nhưng lại xóa bỏ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa Cha. Lời kêu gọi tuân thủ lề luật không được phép ngăn cản mối quan tâm tới những nhu cầu mà chúng biểu lộ phẩm giá con người. |
| Sự chỉ dẫn của Chúa Gi-su về bản văn của Ngôn Sứ Hôsê: “Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu” (Hs 6,6) – trong mối liên hệ này, rất là quan trọng. Ngài nhấn mạnh rằng, từ giờ phút đó trở đi, địa vị trổi vượt của Lòng Thương Xót phải là quy luật sống cho các môn đệ của Ngài, cũng như chính Ngài đã làm chứng về điều đó khi Ngài đồng bàn với những người tội lỗi. Một lần nữa, Lòng Thương Xót còn được minh chứng như là chiều kích nền tảng nơi sứ vụ của Chúa Giêsu. Đó là một thách đố thực sự cho những đối thủ của Ngài, tức những kẻ đang đứng lỳ trong sự tuân thủ lề luật theo hình thức. Trái lại, chính Chúa Giêsu đã vượt lên trên lề luật. Việc Chúa Giêsu thông hiệp với những người mà họ là những tội nhân xét theo lề luật, làm cho chúng ta hiểu về Lòng Thương Xót đã đi xa đến mức nào. |
| Thánh Phaolô Tông Đồ cũng đã đi qua một con đường tương tự. Trước khi Ngài gặp Chúa Giêsu trên đường đi tới Damas, Ngài đã kiếm tìm sự công chính của lề luật với những cách thế hoàn hảo, trong cuộc sống của Ngài (x. Pl 3,6). Cuộc trở lại của Ngài với Chúa Giêsu đã biến đổi cách nhìn của Ngài một cách hoàn toàn, đến độ Ngài đã khẳng định trong bức thư gửi tín hữu Galat rằng: “Con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì luật dậy, nhưng nhờ tin vào Đức Giê-su Kitô, nên chúng ta cũng tin vào Đức Ki-tô Giêsu, để được nên công chính, vì nhờ tin vào Đức Kitô, chứ không phải nhờ làm những gì luật dậy“ (Gl 2,16). Sự hiểu biết của Ngài về đức công chính đã thay đổi một cách căn bản. Từ đó trở đi, Thánh Phaolô đã đặt Đức Tin vào vị trí thứ nhất và không còn là lề luật nữa. Không phải việc tuân thủ lề luật cứu độ nhưng là Đức Tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng mang ơn cứu độ vào trong Lòng Thương Xót làm cho nên công chính của mình, thông qua sự chết và sự phục sinh của Ngài. Giờ đây đức công chính của Thiên Chúa có nghĩa là sự giải phóng của những người đang là nô lệ của tội lỗi và là nô lệ của tất cả những gì bởi tội mà ra. Đức công chính của Thiên Chúa là sự tha thứ của Ngài (x. Tv 51,11-16). |
| 21. Như vậy, Lòng Thương Xót không đứng trong sự trái ngược với đức công chính. Hơn nữa, Lòng Thương Xót còn diễn tả cách xử sự của Thiên Chúa đối với tội nhân mà Ngài giới thiệu cho họ một khả năng tiếp theo để thống hối, để trở về và để tin. Kinh nghiệm của Ngôn Sứ Hô-xê giúp chỉ ra cho chúng ta thấy, đức công chính trổi vượt lên theo hướng Lòng Thương Xót như thế nào. Vị Ngôn Sứ này thuộc về một trong những chương bi ai nhất của lịch sử dân tộc Israel. Vương quốc đang đứng sát ngay trước sự hủy diệt. Dân đã phá vỡ giao ước, đã xa rời Thiên Chúa và đã đánh mất niềm tin vào các tổ phụ. Theo lý luận của con người, sẽ chỉ có công lý nếu như Thiên Chúa nghĩ tới việc cự tuyệt dân tộc bất trung này. Người ta đã không tuân thủ giao ước đã được ký kết và do đó, xứng đáng bị trừng phạt, xứng đáng bị đưa đi lưu đầy. Những lời của vị Ngôn Sứ minh chứng cho điều đó: “Nó sẽ không trở về Ai-cập nữa, nhưng Át-sua sẽ lại làm vua nó, vì nó không chịu về với Ta” (Hs 11,5). Thế nhưng, sau sự phản ứng đầu tiên này, tức sự phản ứng cần tới đức công chính, vị Ngôn Sứ đã cải biến sự lựa chọn từ ngữ của mình một cách căn bản, và đã mạc khải dung nhan đích thực của Thiên Chúa: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi. Ta sẽ không hành động theo cơn nóng giận, sẽ không tiêu diệt Ép-ra-im nữa, vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi, Ta là Đấng Thánh, và Ta sẽ không đến trong cơn thịnh nộ” (Hs 11,8-9). Thánh Augustino cũng nói giống hệt như thế khi Ngài chú giải những lời này của vị Ngôn Sứ: “Việc Thiên Chúa kìm nén cơn giận của Ngài lại thì dễ hơn là việc Ngài rút lại Lòng Thương Xót của mình.” Quả là đúng như vậy. Cơn giận của Chúa chỉ kéo dài trong giây lát, nhưng Lòng Thương Xót của Ngài thì bền vững đến muôn đời. |
| Nếu Thiên Chúa cứ dừng lại mãi trong đức công bình, thì rồi Ngài sẽ chẳng còn là Thiên Chúa nữa, đúng hơn, sẽ nên giống như những người đòi hỏi phải tuân thủ lề luật. Chỉ một mình đức công bình thôi thì không đủ, và kinh nghiệm dậy chúng ta rằng, ai chỉ hiệu triệu nó, người ấy sẽ lâm vào nguy cơ, thậm chí hủy hoại nó. Vì thế, Thiên Chúa vượt lên trên đức công bình với Lòng Thương Xót và sự tha thứ. Điều này không hề có nghĩa là xem thường đức công bình hay làm cho nó trở nên không cần thiết. Hoàn toàn trái lại. Ai mắc phải một lỗi lầm, người ấy phải chịu án phạt. Nhưng án phạt này không phải là điểm kết thúc, nhưng là sự khởi đầu của việc hoán cải, trong đó người ta có kinh nghiệm về sự trìu mến của ơn tha thứ. Thiên Chúa không khước từ đức công bình. Nhưng Ngài đặt nó vào trong một mối liên hệ lớn hơn, và vượt lên trên nó, đến độ người ta có kinh nghiệm về Tình Yêu, mà Tình Yêu ấy chính là nền tàng của đức công bình đích thực. Chúng ta phải rất chăm chú nhìn vào điều mà Thánh Phaolô mô tả, để chúng ta không sa vào những lầm lỗi mà Thánh Tông Đồ đã chỉ trích những người Do-thái sống cùng thời với Ngài: “Họ không nhận biết rằng chính Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính, và họ tìm cách nên công chính tự sức mình. Như vậy là họ không tuân theo đường lối Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính. Quả thế, cứu cánh của Lề Luật là Đức Ki-tô, khiến bất cứ ai tin đều được nên công chính” (Rm 10,3-4). Đức công bình ấy của Thiên Chúa chính là Lòng Thương Xót, nó được ban cho tất cả như là ân sủng, nhờ vào sự chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô. Như vậy, Thập Giá chính là phán quyết của Thiên Chúa trên tất cả chúng ta và thế giới, vì nó trao tặng cho chúng ta sự khôn ngoan của Tình Yêu và của sự sống mới. |
| 22. Năm Toàn Xá sẽ dẫn đưa tới việc chúng ta cũng được thứ tha tội lỗi. Điều này sẽ có được một tầm quan trọng đặc biệt trong Năm Thánh về Lòng Thương Xót. Ơn tha thứ mà Thiên Chúa dành cho chúng ta thì vô hạn. Trong sự chết và trong sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm cho Tình Yêu của Ngài trở nên rõ rệt, chính Tình Yêu ấy sẽ xóa bỏ mọi tội lỗi của con người. Việc giao hòa với Thiên Chúa sẽ trở nên có thể nhờ vào mầu nhiệm Vượt Qua và nhờ vào sự trung gian của Giáo hội. Thiên Chúa luôn luôn tỏ ra sẵn sàng trong việc tha thứ, và Ngài sẽ không bao giờ trở nên mỏi mệt trong việc không ngừng tái giới thiệu ơn tha thứ đó, trong những cách thức ngoài sự mong đợi. Dù sao thì chúng ta cũng có kinh nghiệm về tội lỗi. Chúng ta biết rằng, chúng ta được kêu gọi để trở nên hoàn thiện (x. Mt 5,48), nhưng chúng ta vẫn cảm thấy gánh nặng của tội lỗi. Trong khi chúng ta nhận ra sức mạnh của ân sủng đang biến đổi chúng ta, chúng ta cũng nhận ra sức mạnh của tội lỗi đang chi phối chúng ta biết là chừng nào. Dù có ơn tha thứ, nhưng cuộc sống của chúng ta vẫn bị ghi đậm dấu vết của những phản kháng và mâu thuẫn, mà chúng là hậu quả của tội lỗi chúng ta. Trong Bí Tích Hòa Giải, Thiên Chúa sẽ thứ tha mọi tội lỗi, những tội lỗi ấy sẽ thực sự bị dập tắt. Nhưng dầu vậy cũng vẫn còn những dấu vết tiêu cực mà tội lỗi đã để lại trong thái độ và trong suy nghĩ của chúng ta. Nhưng Lòng Thương Xót của Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn tội lỗi. Lòng Thương Xót sẽ trở thành ơn xá giải mà Thiên Chúa Cha sẽ ban cho tội nhân, tức người được tha thứ, thông qua Giáo hội, Hiền Thê của Chúa Ki-tô, và Ngài sẽ giải thoát tội nhân khỏi tất cả những hậu quả của tội lỗi, đến độ tội nhân có thể tái hành động bởi Tình Yêu, hay nói cho đúng ra là, lớn lên trong Tình Yêu hơn là tái sa vào tội lỗi. |
| Giáo Hội sống trong sự hiệp thông với các Thánh. Sự hiệp thông này diễn ra trong việc cử hành Bí Tích Thánh Thể. Bí Tích này chính là một ân ban của Thiên Chúa, với tư cách là sự hiệp thông thiêng liêng mà nó liên kết các tín hữu chúng ta lại với đoàn ngũ các Thánh và các Chân Phúc, mà các Ngài đông vô vàn, không thể đếm nổi (x. Kh 7,4). Sự thánh thiện của các Ngài sẽ đến với sự yếu đuối của chúng ta để giúp đỡ, và như thế, Mẹ Giáo hội, với lời cầu nguyện và đời sống của mình, có thể cảm thông với sự yếu đuối của người này bằng sự thánh thiện của người khác. Như vậy, sống ơn xá giải của Năm Thánh có nghĩa là, tín thác vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa Cha trong niềm xác tín rằng, ơn tha thứ của Ngài tác động trên toàn bộ đời sống của các tín hữu. Ơn xá giải có nghĩa là, kinh nghiệm về sự thánh thiện của Giáo hội, mà Giáo hội ấy đang tham dự vào với tất cả hoa trái mang đến ơn cứu độ nhờ Chúa Kitô, và Giáo hội tiếp tục chuyển giao ơn cứu độ ấy trong sự tha thứ cho tới những hậu quả cuối cùng, vì Tình Yêu Thiên Chúa cũng trải dài tới đó. Chúng ta hãy sống Năm Toàn Xá này một cách mãnh liệt, bằng cách là chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa tha thứ hết mọi tội lỗi, cũng như xin Ngài ban cho ơn loan truyền lòng nhân hậu đầy Lòng Xót Thương của Ngài. |
| 23. Lòng Thương Xót cũng vượt ra ngoài mọi ranh giới của Giáo Hội một cách đáng kể. Nó nối kết chúng ta lại với người Do-thái và người Hồi giáo, mà đối với họ, Lòng Thương Xót biểu lộ một trong những đặc tính quan trọng nhất của Thiên Chúa. Dân Israel được coi là dân tộc đầu tiên đã tiếp nhận sự mạc khải này, nó tồn tại trong lịch sử như là sự khởi đầu của một vương quốc bao la, mà nó có ý nghĩa như là để giới thiệu với toàn thể nhân loại. Như chúng ta đã thấy, những trang sách Cựu Ước chứa đầy Lòng Thương Xót, vì những trang sách ấy tường thuật về những công việc của Thiên Chúa mà Ngài đã thực hiện cho dân của Ngài trong những phút giây khó khăn nhất của lịch sử dân này. Về phía mình, người Hồi Giáo liệt kê ra những danh xưng đối với Đấng Tạo Hóa là Thượng Đế và là Đấng Đầy Lòng Xót Thương. Cách gọi tên này thường ở trên môi của các tín hữu Hồi Giáo biết mình được đồng hành và được nâng đỡ bởi Lòng Thương Xót trong sự yếu đuối của cuộc sống hằng ngày. Họ cũng tin rằng, không ai có thể đặt ra ranh giới cho Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, vì những cánh cửa của Lòng Thương Xót luôn ở trong tư thế mở ra. |
| Ước chi Năm Tòa Xá này, tức năm mà chúng ta sống trong tinh thần của Lòng Thương Xót, sẽ thúc đẩy sự gặp gỡ với hai tôn giáo nêu trên cũng như với các truyền thống tôn giáo đáng kính trọng khác. Ước chi Năm Thánh này sẽ làm cho chúng ta mở ra hơn nữa đối với sự đối thoại, để chúng ta có thể học biết nhau cũng như hiểu nhau một cách tốt hơn. Ước chi Năm Thánh này sẽ vượt thắng bất cứ mọi hình thức nào của sự khép kín và sự khinh thường, và xua đuổi mọi hình thức bạo lực và kỳ thị. |
| 24. Giờ đây sự suy tư của chúng ta sẽ hướng về Thân Mẫu của Lòng Thương Xót. Cái nhìn đầy từ ái của Mẹ sẽ đồng hành với chúng ta trong suốt Năm Thánh Này, để tất cả chúng ta đều có thể tái khám phá ra niềm vui đến từ sự trìu mến của Thiên Chúa. Không có bất cứ một ai khác giống như Đức Maria đã học biết về sự thẳm sâu của mầu nhiệm Thiên Chúa Làm Người. Toàn bộ cuộc sống của Mẹ đều được khắc ghi bởi sự hiện diện của Lòng Thương Xót trở nên xác phàm. Thân Mẫu của Đấng Chịu Đóng Đinh và cũng là Thân Mẫu của Đấng Phục Sinh đã bước vào trong thánh địa Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, vì Mẹ có sự tham dự thật sâu xa vào với mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa. |
| Vì được tuyển chọn để trở nên Thân Mẫu của Con Thiên Chúa, Đức Maria đã được chuẩn bị sẵn sàng bởi Tình Yêu của Thiên Chúa Cha ngay từ lúc khởi đầu, để trở thành chiếc rương chứa đựng tấm Bia Giao Ước giữa Thiên Chúa và con người. Mẹ bảo vệ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa trong con tim của Mẹ, trong sự đồng tâm nhất trí hoàn toàn với Chúa Giêsu, Con của Mẹ. Bài Ca ngợi khen của Mẹ trước ngưỡng cửa của nhà bà Elisabeth đã được dành cho Lòng Thương Xót, mà Lòng Thương Xót ấy trải dài “từ đời nọ tới đời kia” (Lc 1,50). Chúng ta cũng đã hiện diện trong những lời có tính ngôn sứ này của Đức Trinh Nữ Maria rồi. Điều đó sẽ trở thành niềm an ủi và sự tăng cường sức mạnh cho chúng ta khi chúng ta bước qua Cổng Thánh để có được kinh nghiệm về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. |
| Dưới chân Thập Giá, cùng với Thánh Gioan, người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến, Đức Maria đã trở thành nữ chứng nhân của những Lời tha thứ đến từ môi miệng của Chúa Giêsu. Hình thức cao nhất của sự tha thứ dành cho những kẻ đã đóng đinh Ngài, chỉ ra cho chúng ta thấy, Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đi xa tới mức nào. Đức Maria làm chứng rằng, Lòng Thương Xót của Con Thiên Chúa thì vô bến bờ, và tới được với tất cả, không loại trừ bất cứ một ai. Chúng ta hãy dâng lên Mẹ lời Kinh rất cổ xưa nhưng cũng luôn luôn mới mẻ: Salve Regina (Kính Mừng Nữ Vương), xin Mẹ đừng bao giờ trở nên mỏi mệt trong việc hướng cặp mắt từ bi của Mẹ xuống trên chúng ta, và làm cho chúng ta trở nên xứng đáng được ngắm nhìn Dung Nhan của Lòng Thương Xót, là Chúa Giêsu, Con của mẹ. |
| Lời cầu nguyện của chúng ta cũng sẽ được dâng lên cùng các Thánh cũng như các vị Chân Phúc, mà các Ngài đã làm cho lòng Thương Xót trở thành sứ mạng nơi cuộc sống của các Ngài. Với một cách thế đặc biệt, chúng ta hãy nghĩ tới Nữ Tông Đồ vĩ đại của Lòng Thương Xót – Thánh Nữ Faustyna Kowalska. Thánh Nữ đã được kêu gọi để bước vào trong sự thẳm sâu của Lòng Chúa Xót Thương, vì thế Thánh Nữ chính là nữ trạng sư của chúng ta, cũng như sẽ cố gắng giành lấy cho chúng ta ân sủng, để chúng ta luôn sống và bước đi trong sự tha thứ của Thiên Chúa cũng như trong niềm tín thác không suy suyển vào Tình Yêu của Ngài. |
| 25. Như vậy, một Năm Thánh ngoại thường để sống trong cuộc sống hằng ngày với Lòng Thương Xót mà Thiên Chúa Cha đã đưa đến cho chúng ta ngay từ thuở ban đầu. Trong Năm Thánh này, chúng ta hãy để cho mình được gây ngỡ ngàng bởi Thiên Chúa. Ngài không bao giờ trở nên mỏi mệt trong việc giữ cho cánh cửa của con tim Ngài luôn ở thế mở, và không hề mỏi mệt trong việc lập đi lập lại rằng, Ngài yêu thương chúng ta và muốn chia sẻ cuộc sống của Ngài cho chúng ta. Giáo hội cảm thấy có sự cần thiết mang tích cấp bách trong việc công bố Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Đời sống của Giáo hội sẽ trở nên xác thực và đáng tin cậy nếu như Giáo hội công bố về Lòng Thương Xót một cách đầy thuyết phục. Giáo Hội biết rằng, đặc biệt là trong một thời đại như thời đại của chúng ta, đó là những niềm hy vọng to lớn, nhưng cũng đầy những chống đối mãnh liệt, sứ mạng ưu tiên của Giáo Hội hàm chứa trong việc dẫn đưa tất cả mọi người đi vào trong mầu nhiệm vĩ đại của Lòng Chúa Xót Thương thông qua việc chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Kitô. Giáo Hội được kêu gọi trở nên như là nữ chứng nhân đáng tin cậy đầu tiên của Lòng Thương Xót, bằng cách là Giáo Hội tuyên xưng và sống Lòng Thương Xót như là trung tâm điểm trong công cuộc mạc khải của Chúa Giêsu Kitô. Dòng thác vĩ đại của Lòng Thương Xót bắt nguồn và tuôn trào ra một cách không ngừng từ tận cõi lòng của Thiên Chúa Ba Ngôi, từ tận nội tâm thẳm sâu nhất của mầu nhiệm Thiên Chúa. Nguồn mạch này không bao giờ có thể bị khô cạn, ngay cả khi có rất nhiều người đến với nó. Bất cứ khi nào một ai đó cảm thấy có nhu cầu, người ấy đều có thể tiến đến nguồn mạch ấy, vì Lòng Thương Xót của Thiên Chúa thì không cùng. Sự thẳm sâu của mầu nhiệm mà nó bao quanh Lòng Thương Xót thì rất vĩ đại và không thể giải thích, và sự phong phú bắt nguồn từ Lòng Thương Xót cũng rất vĩ đại và thật thẳm sâu. |
| Trong Năm Toàn Xá này, một tiếng vọng từ Lời Thiên Chúa được tìm thấy trong Giáo Hội, nó vang lên một cách mạnh mẽ và đầy tính thuyết phục như là một lời và như là một cử chỉ của sự tha thứ, của sự đỡ nâng, của sự trợ giúp và của Tình Yêu. Giáo hội sẽ không bao giờ trở nên mỏi mệt trong việc giới thiệu Lòng Thương Xót, và Giáo hội sẽ luôn luôn kiên nhẫn trong sự ủi an và tha thứ. Giáo hội tự biến mình thành giọng nói của bất cứ người nam hay người nữ nào, và lập lại với một sự đầy tin tưởng và không ngừng rằng: “Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu, Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời” (Tv 25,6). |
| Ban hành tại Rô-ma, cạnh Đền Thờ Thánh Phê-rô Ngày 11 tháng 04 năm 2015 Kinh Chiều một của Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh Tức Chúa Nhật về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa Năm thứ ba Triều Đại Giáo Hoàng của tôi ĐTC Phan-xi-cô |
| Lm Đa-minh Thiệu O.Cist – chuyển ngữ |
.jpg)