TÔNG SẮC CÔNG BỐ NĂM THÁNH VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT (P.2)
| TÔNG SẮC CÔNG BỐ NĂM THÁNH VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT Misericordiae Vultus – Dung Nhan Lòng Thương Xót |
| 10. Chiếc trụ đỡ nâng đời sống Giáo hội chính là Lòng Thương Xót. Toàn bộ hoạt động mục vụ của Giáo hội nên được bao bọc bởi sự trìu mến mà với nó, Giáo hội hướng về các tín hữu; việc loan báo Tin Mừng của Giáo hội và chứng tá của Giáo hội đối với thế giới sẽ không thể diễn ra mà không có Lòng Thương Xót. Tính đáng tin của Giáo hội được xúc tiến trên con đường Tình Yêu nhân hậu và cảm thông. Giáo hội “cảm thấy mình có một ước muốn vô hạn trong việc giới thiệu Lòng Thương Xót”. Có lẽ từ lâu rồi chúng ta đã quên mất việc chỉ ra con đường của Lòng Thương Xót, cũng như đã quên mất việc đi trên con đường ấy. Một mặt luôn có cơn cám dỗ muốn đòi hỏi công lý một cách luôn luôn và một mình, làm cho chúng ta quên mất rằng, điều này chỉ là bước đầu tiên. Thực ra, bước đi đầu tiên này là cần thiết và không thể phủ nhận, nhưng Giáo hội phải vượt lên khỏi đó vì một mục đích cao hơn và tràn đầy ý nghĩa hơn. Nhưng ở bình diện khác thì thật buồn bã khi phải chứng kiến kinh nghiệm về sự tha thứ đang ngày càng trở nên hiếm hoi như thế nào trong nền văn hóa của chúng ta. Thậm chí, chính từ ngữ này đôi khi có vẻ như đã khuất dạng. Nếu như không có chứng tá về sự tha thứ thì chỉ còn lại một cuộc sống khô cằn và vô sinh, giống hệt như khi người ta sống trong một sa mạc thê lương. Đối với Giáo hội, đã đến lúc tái dành thời gian để công bố một cách vui mừng về sự tha thứ. Đây chính là thời gian để tái trở về lại với những gì là căn bản và chính yếu, cũng như để đón nhận những người yếu đuối, những người đang gặp khó khăn nhất trong số những người anh chị em của chúng ta. Sự tha thứ chính là một sức mạnh làm cho tái sinh để trở thành một cuộc sống mới, cũng như trao tặng sự can đảm để hướng cái nhìn về tương lai một cách tràn đầy hy vọng. |
| 11. Chúng ta không thể quên được Giáo huấn vĩ đại mà Đức Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã trình bày trong bức Thông Điệp thứ hai của Ngài: Dives in misericordia. Hồi đó, giáo huấn này đã được công bố ngoài niềm mong đợi, và đã đem đến sự ngỡ ngàng cho nhiều người vì đề tài được chọn. Cha muốn nhắc một cách đặc biệt tới hai suy tư. Trước hết, vị Thánh Giáo Hoàng này đã vạch ra cho thấy, nền văn hóa trong thời đại chúng ta đã quên bẵng đi mất đề tài về Lòng Thương Xót một cách quá mức như thế nào: “Tâm lý của con người thời nay có vẻ như đang muốn chống lại một Thiên Chúa giầu lòng Thương Xót hơn là trong quá khứ, và có khuynh hướng muốn gạt bỏ ý tưởng về Lòng Thương Xót ra khỏi cuộc sống và ra khỏi con tim. Cụm từ và thuật ngữ “Lòng Thương Xót” xem ra có vẻ như đang gây kinh ngạc cho con người đã trở thành chủ nhân nhờ vào một sự tiến bộ về khoa học và kỹ thuật mà trước đó không hề được biết đến trong lịch sử, và đã khuất phục trái đất cũng như đã nô dịch hóa nó (x. St 1,28). Sự làm chủ trên trái đất, mà việc làm chủ này đôi khi được hiểu một cách phiến diện và nông cạn, xem ra có vẻ như không còn để không gian cho Lòng Thương Xót nữa. […] Đó là lý do cho thấy, tại sao có nhiều người và nhiều cộng đoàn trong hoàn cảnh Giáo hội và thế giới ngày nay, được hướng dẫn bởi một cảm thức về Đức Tin, lại đang hướng về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, có thể nói là một cách hồn nhiên và tự phát.” |
| Sau đó Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã chứng minh về sự cần thiết phải công bố về Lòng Thương Xót cho thế giới hôm nay, cũng như để minh chứng cho những điều sau đây: “Lòng Thương Xót được khơi lên bởi Tình Yêu đối với con người, đối với tất cả những gì thuộc về con người và những gì đang bị đe dọa bởi một mối nguy của một quy mô khủng khiếp theo ý tưởng của nhiều người đang cùng sống trong thời đại chúng ta. Đồng thời, chính mầu nhiệm Chúa Ki-tô […] ép buộc tôi phải công bố về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, phải công bố về Tình Yêu nhân hậu của Ngài được mạc khải trong mầu nhiệm Chúa Ki-tô. Chính mầu nhiệm này cũng thúc giục tôi hướng về Lòng Thương Xót ấy trong những giai đoạn khó khăn và nguy ngập của lịch sử Giáo hội và thế giới, cũng như thúc bách tôi phải cầu xin Chúa ban Lòng Thương Xót ấy.” Vì thế, giáo huấn ấy của Ngài có tính thời sự hơn bao giờ hết, và xứng đáng được tái làm sáng tỏ trong Năm Thánh này. Do đó, chúng ta hãy tái đón nhận những lời của Ngài: “Giáo hội sẽ sống một cuộc sống đích thực khi Giáo hội tuyên xưng và công bố Lòng Thương Xót – đặc tính phần lớn gây ngỡ ngàng của Đấng Sáng Tạo và của Đấng Cứu Độ – và khi Giáo hội dẫn đưa con người đi tới với nguồn mạch Lòng Thương Xót của Đấng Cứu Thế, tức nguồn mạch mà Giáo hội đang bảo vệ, cũng như Giáo hội đang phân phát từ đó.” |
| 12. Giáo hội có sứ mạng công bố về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, công bố con tim đang sôi sục của Tin Mừng. Nhờ đó, Lòng Thương Xót sẽ đạt tới được con tim và khối óc của con người. Hiền thê của Chúa Ki-tô biến hành động của Con Thiên Chúa thành hành động của mình, và đi đến với tất cả mọi người cũng như không loại trừ bất cứ ai. Trong thời đại chúng ta, mà trong đó Giáo hội đã dành cho việc tái loan báo Tin Mừng, điều này có ý nghĩa như là việc mang đề tài Lòng Thương Xót với niềm hăng hái mới cũng như với một công cuộc mục vụ được canh tân, tiến về phía trước. Việc đó có tính quyết định đối với Giáo hội và đối với tính đáng tin cậy trong việc loan báo Tin Mừng của Giáo hội, Giáo hội sống và làm chứng cho Lòng Thương Xót trong ngôi thứ nhất! Ngôn ngữ và cử chỉ của Giáo hội phải làm môi giới cho Lòng Thương Xót, cũng như phải thấm vào trong con tim của nhân loại, và phải thôi thúc họ chọn theo con đường trở về với Thiên Chúa Cha. |
| Chân lý đầu tiên của Giáo hội chính là Tình Yêu Chúa Ki-tô. Giáo hội biến mình thành nữ tý và nữ trung gian của Tình Yêu ấy, tức Tình Yêu dẫn tới sự tha thứ và sự tự hiến. Như vậy, nơi đâu có sự hiện diện của Giáo hội, thì Lòng Thương Xót của Thiên Chúa Cha cũng phải trở nên rõ rệt tại đó. Trong các Giáo xứ, các Cộng đoàn, và các hiệp hội của chúng ta trên khắp thế giới, tức những nơi mà các Ki-tô hữu đang hiện diện, mỗi người thuộc bất cứ ốc đảo nào cũng đều phải có thể nhận ra được Lòng Thương Xót. |
| 13. Chúng ta muốn sống Năm Toàn Xá này trong ánh sáng của Lời Chúa: Nhân từ như Thiên Chúa Cha. Tác giả Tin Mừng đã trao lại cho chúng ta giáo huấn của Chúa Giê-su, Đấng đã nói: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36). Ở đây, đó là một chương trình sống, vừa có tính đòi hỏi nhưng cũng vừa là một niềm vui, và cũng là một sự bình an tròn đầy. Mệnh lệnh này của Chúa Giêsu hướng đến tất cả những ai nghe thấy được giọng nói của Ngài (x. Lc 6,27). Để có được khả năng sống Lòng Thương Xót, thì trước tiên, chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa. Điều này có nghĩa là, chúng ta phải tái khám phá ra giá trị của sự tĩnh lặng để có thể suy niệm Lời Chúa, mà Lời đó đang được hướng tới chúng ta. Với cách thức ấy, việc chiêm ngưỡng Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, thủ đắc Lòng Thương Xót ấy cho mình, và làm cho Lòng Thương Xót trở thành lối sống riêng, sẽ trở nên có thể. |
| 14. Việc thực hiện những chuyến hành hương chính là một dấu chỉ đặc biệt trong một Năm Thánh, vì việc này là biểu tượng cho con đường mà mỗi người đã có nhằm giữ lại trong cuộc hiện sinh của mình. Chính cuộc sống là một cuộc lữ hành và con người là lữ khách, một lữ khách trên đường đi tới đích điểm đang được khát mong. Ngay cả việc đi tới được những Cổng Thánh tại Rôma hay tại một địa điểm nào khác, mỗi người đều phải thực hiện một cuộc lữ hành tương ứng với khả năng riêng của mình. Cuộc lữ hành ấy nên trở thành một dấu chỉ để cho thấy rằng, ngay cả Lòng Thương Xót cũng là một mục tiêu, có nghĩa là bung mình ra cũng như cần tới sự dấn thân và hy sinh. Vì thế, việc thực hiện những chuyến hành hương cần trở nên một động cơ thúc đẩy việc hoán cải. Khi chúng ta bước qua chiếc Cổng Thánh, chúng ta sẽ để cho mình được ôm choàng lấy bời Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, cũng như để cho chúng ta bị ép buộc phải trở nên nhân từ với những người đang sống cùng thời với chúng ta, giống như Thiên Chúa Cha đang rất nhân từ với chúng ta vậy. |
| Chúa Giêsu Kitô của chúng ta đặt ra trước mặt chúng ta những bước đi riêng biệt cho cuộc lữ hành này để chúng ta đạt tới được đích điểm. “Nếu anh em không xét đoán thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ ban cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,37-38). Như vậy, Ngài nói trước tiên rằng, chúng ta đừng nên phán xét, cũng đừng nên kết án. Ai không muốn bị điệu đến trước tòa án của Thiên Chúa, người ấy không được phép biến mình thành quan tòa của anh em mình. Trong thực tế, qua sự kết án của mình, con người vẫn chỉ dừng lại ở lớp bề mặt, nhưng trái lại, Thiên Chúa Cha nhìn tới tận nơi thẳm sâu nhất. Những lời nói đã gây ra biết bao nhiêu là những điều ác khi những lời ấy được quả quyết bởi lòng ghen tị và bởi sự cao ngạo! Nói xấu những người anh em vắng mặt, những người chị em vắng mặt, có nghĩa là đẩy biết bao nhiêu là những người như thế vào trong ánh sáng tồi tàn, gây thiệt hại cho thanh danh của họ, và trao họ cho lời ong tiếng ve. Đừng phán xét và cũng đừng kết án, có nghĩa là ở trong sự trong sáng để nhận ra điều tốt lành trong bất cứ một con người nào, và đừng để xảy ra việc những người này phải đau khổ vì những lời kết án bị hạn chế của chúng ta, cũng như vì sự kiêu căng của chúng ta, tưởng rằng mình biết rõ mọi chuyện rồi. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ để diễn tả Lòng Thương Xót. Chúa Giê-su yêu cầu chúng ta phải tha thứ và phải trao hiến chính bản thân mình hầu trở nên những khí cụ của sự tha thứ, vì trước hết, chúng ta đã có kinh nghiệm về ơn tha thứ của Thiên Chúa, để trở nên quảng đại đối với tất cả trong sự hiểu biết rằng, Thiên Chúa cũng đang thể hiện lòng hảo tâm của Ngài một cách rất rộng lượng đối với chúng ta. |
| Như vậy, nhân từ như Thiên Chúa Cha chính là khẩu hiệu của Năm Thánh. Trong Lòng Thương Xót, chúng ta có được bằng chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương thế nào. Ngài trao hiến hoàn toàn bản thân mình một cách vĩnh viễn, như một quà tặng, mà không hề có chuyện yêu cầu một điều gì đó như là sự đền đáp. Ngài sẽ đến giúp chúng ta khi chúng ta cầu xin Ngài điều đó. Thật là tuyệt vời khi giờ cầu nguyện hằng ngày của Giáo hội bắt đầu với những lời sau: “Lạy Chúa Trời, xin tới giúp con. Muôn lạy Chúa, xin mau phù giúp con” (Tv 70,2). Ơn phù trợ mà chúng ta cầu xin chính là bước đầu tiên nơi Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đối với chúng ta. Ngài đến để cứu chúng ta ra khỏi sự yếu hèn của chúng ta. Và ơn phù trợ của Ngài hàm chứa trong việc Ngài thôi thúc chúng ta đón nhận sự hiện diện cũng như sự gần gũi của Ngài. Được gây xúc động bởi Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, ngày lại ngày chúng ta cũng có thể trở nên nhân từ đối với những người khác. |
| 15. Trong Năm Thánh Này, chúng ta có thể có được kinh nghiệm như thế nào về việc chúng ta sẽ mở cõi lòng mình ra cho tất cả những ai đang sống tại những vùng rìa khác nhau của kiếp hiện sinh mà thế giới hiện tại tạo ra chúng, nhưng thường là trong những cách thức bi ai. Đang có biết bao nhiêu là những trạng huống hiểm nghèo, cũng như đang có biết bao nhiêu là những nỗi khổ đau trong thế giới chúng ta! Có biết bao nhiêu là những vết thương đang bị làm trầy xước nơi thân xác của rất nhiều con người mà họ không có được tiếng nói nữa, vì tiếng kêu của họ đã trở nên yếu ớt hay đã hoàn toàn bị ngưng bặt chỉ vì sự thờ ơ lãnh đạm của những dân tộc giầu có. Trong Năm Toàn Xá này, Giáo hội còn được mời gọi hơn nữa trong việc chữa trị những vết thương ấy, hầu xoa dịu những vết thương ấy bằng dầu ủi an, băng bó những vết thương ấy bằng Lòng Thương Xót, và chữa lành những vết thương ấy bằng tình liên đới và sự kính trọng có tính bổn phận. Chúng ta đừng sa vào thái độ thờ ơ lãnh đạm, tức thái độ hạ thấp nhân phẩm, đừng rơi vào trong thói quen đánh mất cảm xúc mà nó ngăn cản việc khám phá ra một cái gì đó mới mẻ, đừng rơi vào thói cay độc vì nó hủy hoại tất cả. Chúng ta hãy mở cặp mắt mình ra để nhìn thấy những nỗi khốn cùng của thế giới này, những vết thương của rất nhiều anh chị em mà họ đang bị cướp đi phẩm giá của họ. Chúng ta hãy cảm thấy mình đang bị thách đố trong việc lắng nghe tiếng kêu cứu của họ. Ước gì đôi tay của chúng ta có thể nắm lấy đôi tay của họ cũng như có thể kéo họ lại gần với chúng ta, hầu cho họ cảm nghiệm được hơi ấm từ sự hiện diện, từ tình bằng hữu, từ tình huynh đệ của chúng ta. Ước chi tiếng kêu của họ có thể trở thành tiếng kêu của chúng ta, và ước chi chúng ta có thể cùng nhau giật sập mọi hàng rào ngăn cách của tính thờ ơ lãnh đạm mà chúng ta ưa thích tự nguyện trao thân cho nó hầu che dấu thói giả hình và sự ích kỷ của chúng ta. Cha mong muốn một cách khẩn khoản rằng, trong năm Toàn Xá này, các Kitô hữu sẽ suy tư về các công việc của Lòng Thương Xót: Thương Người Có Mười Bốn Mối. Việc đó sẽ trở thành một hình thức nhằm đánh thức lương tâm của chúng ta, mà lương tâm ấy thường hay bị ngủ thiếp đi trước tấn bi kịch của sự nghèo túng, cũng như càng ngày càng tiến vào trong trung tâm của Tin Mừng, mà trong đó, người nghèo chính là những người được Lòng Thương Xót của Thiên Chúa ưu ái hơn. Việc công bố Chúa Giêsu sẽ liệt kê ra cho chúng ta biết về những việc của Đức Xót Thương, để chúng ta có thể thẩm tra xem, liệu chúng ta có đang sống với tư cách là những người môn đệ của Ngài hay không. Chúng ta hãy tái khám phá ra những công việc của Lòng Thương Xót đối với thân xác: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, chôn xác kẻ chết, chuộc kẻ làm tôi. Và chúng ta cũng đừng quên những công việc của Lòng Thương Xót đối với linh hồn: lấy lời lành mà khuyên người, dậy dỗ kẻ mu muội, yên ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết. |
| Chúng ta không thể lẩn tránh khỏi những Lời của Thiên Chúa, mà sẽ có ngày chúng ta sẽ bị kết án dựa trên những Lời đó: Chúng ta có cho những con người đang đói cái gì đó để họ ăn, và chúng ta có trao nước cho những người đang khát để họ uống không? Chúng ta có đón tiếp những người khách lạ vào nhà cũng như có trao quần áo cho những người ăn mặc rách rưới để họ mặc không? Chúng ta có dành thời gian để thăm viếng các bệnh nhân cũng như các tù nhân không? (x. Mt 25,31-45). Giống hệt như thế, chúng ta cũng sẽ bị tra vấn về việc chúng ta có giúp đỡ người khác để họ vượt qua những nỗi nghi nan hay không, mà những nỗi nghi an ấy có thể khơi lên nỗi sợ hãi cũng như thường gây ra nỗi cô đơn? Chúng ta có khả năng chiến thắng sự thiếu hiểu biết mà hàng triệu người đang sống trong đó, đặc biệt là các em nhỏ, chúng đang thiếu những trợ giúp cần thiết để có thể thoát ra khỏi sự nghèo đói hay không? Chúng ta có đến gần với những con người mà họ đang bị cô đơn và đang bị phiền não hay không? Chúng ta có tha thứ cho những người mà họ đã xúc phạm đến chúng ta không? Chúng ta có khước từ bất cứ mọi hình thức oán hận và căm thù nào mà chúng thường dẫn tới bạo lực hay không? Chúng ta có kiên nhẫn theo gương của Chúa, Đấng luôn rất kiên nhẫn với chúng ta không? Và sau cùng, chúng ta có trao phó những người anh em và những người chị em của chúng ta cho Chúa trong lời cầu nguyện không? Chúa Kitô đang hiện diện trong bất cứ một con người nào trong số “những người nhỏ bé nhất” ấy. Thân xác của Ngài đang tái trở nên rõ ràng trong bất cứ thân xác nào đang bị hành hạ, đang bị gây tổn thương, đang bị đánh đập, đang bị thiếu dinh dưỡng và đang bị ép buộc phải trốn chạy…, để chúng ta nhận ra Ngài, đụng chạm được tới Ngài và giúp đỡ Ngài một cách chu đáo. Chúng ta đừng quên những lời của Thánh Gio-an Thánh Giá: “Vào lúc cuối đời, chúng ta sẽ bị kết án theo Đức Ái.” |
| 16. Trong Tin Mừng theo Thánh Lu-ca, chúng ta thấy một khía cạnh quan trọng tiếp theo, khía cạnh đó sẽ giúp chúng ta sống Năm Toàn Xá này trong Đức Tin. Tác giả Tin Mừng đã tường thuật cho thấy Chúa Giêsu đã trở về lại Nazareth như thế nào, và theo tập quán, Ngài đã bước vào trong hội đường nhằm ngày Sabbat như thế nào. Người ta đã xin Ngài đọc Kinh Thánh cũng như giải thích Kinh Thánh cho họ nghe. Ngài đã mở sách Thánh ra và trúng ngay vào đoạn sách của Ngôn Sứ Isaia với những lời như sau: “Thần khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi loan báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Đức Chúa” (Is 61,1-2). Một “năm Hồng Ân của Đức Chúa” chính là năm được công bố bởi Chúa Giêsu, và chúng ta đang muốn sống năm đó. Năm Thánh này mang đến với chính nó sự phong phú nơi sứ mạng của Chúa Giêsu, giống như được vang lên trong những lời của sách Ngôn Sứ: Mang đến cho người nghèo một lời và một cử chỉ ủi an, công bố ơn giải thoát cho những người mà họ đang bị giam cầm trong những hình thức nô lệ mới của xã hội hiện đại, tái trao lại tầm nhìn cho những người mà họ không còn có thể nhìn thấy bất cứ điều chi nữa, vì họ chỉ nhìn chằm chặp vào chính mình, trao lại phẩm giá cho những người mà họ đã bị người ta cướp mất phẩm giá của mình. Việc công bố Chúa Giêsu sẽ trở nên tái rõ ràng trong lời đáp trả phát xuất từ Đức Tin, cũng như trong chứng tá đời sống mà tất cả các Ki-tô hữu đều được kêu gọi để trao đi. Ở đây, lời của Thánh Tông Đồ sẽ đồng hành với chúng ta: “Ai thực thi Lòng Thương Xót thì hãy thực thi việc ấy cách vui vẻ” (Rm 12,8). |
| 17. Trong Năm Toàn Xá này, Mùa Chay nên được sống một cách mạnh mẽ như là một thời gian đặc biệt mà trong đó được dành để cử hành về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa cũng như để kinh nghiệm về Lòng Thương Xót ấy. Biết bao nhiêu là trang Kinh Thánh được giới thiệu trong các tuần Mùa Chay để suy niệm, hầu tái khám phá ra dung nhan nhân hậu của Thiên Chúa! Với Ngôn Sứ Mi-kha, chúng ta cũng có thể nói: Lạy Chúa, Chúa là Thiên Chúa tha thứ lỗi lầm và thứ tha điều sai trái. Xin đừng giữ mãi cơn giận của Chúa; vì Chúa yêu thích sự khoan dung. Lạy Chúa, Chúa sẽ lại có Lòng Thương Xót với dân của Chúa và sẽ chà đạp tội lỗi chúng con. Vâng, Chúa sẽ quẳng ném tất cả mọi tội lỗi của chúng con vào trong lòng biển sâu thẳm (x. Mk 7,18-19). |
| Những chương của sách Ngôn Sứ Isaia có thể còn được chiêm nghiệm một cách cụ thể hơn trong mùa cầu nguyện này, tức Mùa Chay, mùa thực thi Đức Ái đối với tha nhân: “Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục? Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành. Đức công chính ngươi sẽ mở đường phía trước, vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau ngươi. Bấy giờ, ngươi kêu lên, Đức Chúa sẽ nhận lời, ngươi cầu cứu, Người liền đáp lại: “Có Ta đây!” Nếu ngươi loại khỏi nơi ngươi ở mọi gông cùm, mọi cử chỉ đe dọa và lời nói hại người, nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói, làm thoả lòng người bị hạ nhục, thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu toả trong bóng tối, và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ. Đức Chúa sẽ không ngừng dẫn dắt ngươi, giữa đồng khô cỏ cháy, Người sẽ cho ngươi được no lòng; xương cốt ngươi, Người sẽ làm cho cứng cáp. Ngươi sẽ như thửa vườn được tưới đẫm, như mạch suối không cạn nước bao giờ” (Is 58, 6-11). |
| Sáng kiến “24 giờ dành cho Chúa” sẽ được cử hành vào các ngày thứ Sáu và thứ Bảy trước Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay, nên được tăng cường trong các Giáo phận. Nhiều người sẽ tái đến với Bí Tích Giao Hòa, trong đó có nhiều người trẻ, và trong một kinh nghiệm đặc biệt, họ thường thấy được con đường đưa họ trở về lại với Thiên Chúa, để trải qua một khoảnh khắc cầu nguyện thiết tha, và do đó, tái khám phá ra ý nghĩa nơi cuộc sống của mình. Với niềm xác tín, chúng ta sẽ tái đặt Bí Tích Giao Hòa vào trong trung tâm điểm, vì trong đó, chúng ta sẽ có thể đụng tay tới được sự vĩ đại của Lòng Thương Xót. Bí Tích sẽ trở thành nguồn mạch bình an đích thực đối với bất cứ hối nhân nào. |
| Cha sẽ không hề mệt mỏi trong việc lập đi lập lại rằng, các Cha Giải Tội cần phải trở thành một dấu chỉ thực sự đối với Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Một Cha giải tội không chỉ đơn giản như thế. Người ta sẽ trở thành một Linh Mục Giải Tội, đặc biệt là nhờ vào việc chúng ta phải kiếm tìm ơn tha thứ trước hết cho sự thống hối của chính chúng ta. Chúng ta đừng quên rằng, trở thành Cha Giải Tội có nghĩa là, tham dự vào với sứ mạng của Chúa Giê-su, và trở nên dấu chỉ cụ thể đối với Tình Yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa, tức Tình Yêu tha thứ và cứu độ. Chúng ta đã đón nhận các ơn Chúa Thánh Thần để tha thứ. Do đó, chúng ta phải có trách nhiệm. Chúng ta không phải là chủ nhân của Bí Tích này, nhưng là người quản lý trung tín ơn tha thứ của Thiên Chúa. Bất cứ vị Linh mục giải tội nào cũng cần phải đón nhận các tín hữu giống như người cha trong dụ ngôn đứa con hoang đàng: đó là một người cha đi đến với đứa con, bất chấp việc đứa con này đã phung phí tài sản của ông. Các Linh mục giải tội cần phải ôm vào lòng mình người con đang sám hối, tức người con trở về nhà, và phải diễn tả niềm vui của mình về điều đó rằng, họ đã tái tìm thấy người con. Họ cũng đừng bao giờ trở nên mệt mỏi trong việc đi đến với người con khác mà nó đang ở lại bên ngoài và không đạt tới được niềm vui. Họ nên giải thích cho nó biết rằng, sự kết án gay gắt của nó là bất công, và rằng, điều đó không thể tồn tại trước Lòng Thương Xót vô biên của Thiên Chúa. Họ đừng đặt ra những câu hỏi gây phiền phức, đúng hơn, họ hãy cắt ngang – như người cha trong dụ ngôn – bản tường trình đã được soạn sẵn của đứa con hoang đàng, vì họ hiểu để đọc ra tiếng kêu xin giúp đỡ và sự cần tới ơn tha thứ trong tâm hồn của một trong bất cứ hối nhân nào. Vì thế, các Linh mục giải tội được kêu gọi luôn luôn, khắp nơi, và trong mọi tình huống, bất luận đó là những tình huống nào, để trở nên dấu chỉ riêng của Lòng Thương Xót. |
| 18. Trong Mùa Chay của Năm Thánh này, Cha có dự định gửi đi các nhà truyền giáo của Lòng Thương Xót. Họ nên trở thành một dấu chỉ về sự long lắng từ mẫu của Giáo hội đối với Dân Chúa, để nó có thể thấm sâu vào trong sự phong phú giầu sang của mầu nhiệm có tính rất căn bản này đối với Đức Tin của chúng ta. Ở đây, đó là các Linh Mục mà Cha sẽ trao cho họ toàn quyền trong việc giải trừ các tội lỗi, mà cứ sự thường, việc tha thứ những tội ấy chỉ thuộc thẩm quyền của Tòa Thánh. Vì thế, tầm quan trọng nơi sứ vụ của các Ngài cần phải trở nên rõ ràng. Trước hết, các Ngài cần phải trở thành dấu chỉ sống động đối với việc Thiên Chúa Cha sẽ đón nhận bất cứ ai kiếm tìm ơn tha thứ của Ngài. Họ sẽ là những nhà truyền giáo của Lòng Thương Xót, vì thế, họ cần phải giới thiệu cho tất cả biết về một cuộc gặp gỡ của tất cả nhân loại, một nguồn cội của ơn giải thoát, và một địa điểm mang trách nhiệm mà nó có khả năng vượt thắng tất cả mọi rào cản, và tái lãnh nhận sự sống mới đã được ban tặng trong Bí Tích Thanh Tẩy. Trong sứ vụ của mình, họ để cho chính họ được dẫn dắt bởi những lời sau đây của Thánh Tông Đồ: “Quả thế, Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội bất tuân, để thương xót mọi người” (Rm 11,32). Vì tất cả mọi người, không trừ một ai, đều nên đón nhận tiếng gọi mời đi tới với Lòng Thương Xót. Các nhà truyền giáo sẽ thực thi tiếng gọi mời này trong sự hiểu biết rằng, họ có thể hướng ánh nhìn của họ lên cùng Chúa Giê-su, Đấng là “Thượng Tế thương xót và tín trung” (Dt 2,17). |
| Cha xin các chư huynh trong sứ vụ Giám Mục, hãy mời những nhà Truyền Giáo này đến, cũng như hãy đón nhận họ, để trước hết, họ có thể trở thành những nhà giảng thuyết đáng tin cậy về Lòng Thương Xót. Ước gì trong các Giáo phận, người ta sẽ tổ chức các cuộc “truyền giáo mang tính quần chúng” để các nhà truyền giáo này có thể trở thành những người công bố niềm vui thông qua sự tha thứ. Ước chi họ sẽ cử hành Bí Tích Giao Hòa cho nhiều người, để trong thời gian ân sủng này, tức thời gian mà Năm Thánh trao cho chúng ta, trong khả năng có thể, nhiều người đã đi xa, giờ đây lại tái tìm thấy con đường trở về nhà Cha. Trong bốn mươi ngày Mùa Chay, các Mục Tử nên mời gọi một cách đặc biệt các tín hữu hãy đến gần “ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương” (Hr 4,16).
|
.jpg)