TÔNG SẮC CÔNG BỐ NĂM THÁNH VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT (P.1)

5 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cập nhật lần cuối: 2016-01-29 18:18:30  | RSS

TÔNG SẮC CÔNG BỐ NĂM THÁNH VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT

Misericordiae Vultus – Dung Nhan Lòng Thương Xót

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, Giám Mục thành Rô-ma, Tôi tớ của các tôi tớ Chúa

Cầu xin ân sủng, Lòng Thương Xót và bình an cho tất cả những ai đọc Tông Sắc này.

1. Chúa Giê-su Kitô là dung nhan Lòng Thương Xót của Thiên Chúa Cha. Mầu nhiệm Đức Tin Kitô giáo xem ra được trình bày một cách chính xác trong câu nói ấy. Trong Chúa Giêsu thành Nazareth, Lòng Thương Xót của Thiên Chúa Cha trở nên sống động và rõ ràng, và đã tìm thấy tột đỉnh điểm của nó. Chúa Cha, Đấng “đầy Lòng Nhân Hậu” (Ep 2, 4), Đấng đã tự mạc khải mình cho Mô-sê như là “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6), đã không hề ngừng mạc khải bản tính Thiên Chúa của Ngài trong lịch sử bằng nhiều cách thế và qua các thời kỳ khác nhau. Nhưng, khi “thời gian đến hồi viên mãn” (Gl 4,4), theo đúng với nhiệm cục cứu độ của mình, Ngài đã sai Con Một của Ngài đến, được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, để mạc khải cho chúng ta biết về Tình Yêu của Ngài bằng một cách thế mang tính chung cuộc. Ai thấy Ngài là thấy Chúa Cha (x. Ga 14,9). Chúa Giê-su thành Nazareth chính là Đấng mạc khải về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, nhờ vào những lời và những công việc của Ngài, và nhờ vào toàn bộ cuộc hiện sinh của Ngài.

2. Việc tái chiêm ngưỡng mầu nhiệm Lòng Thương Xót này vẫn luôn là điều có giá trị. Mầu nhiệm này chính là nguồn cội của niềm vui, của sự thanh thản và bình an. Mầu nhiệm này cũng chính là điều kiện đối với ơn cứu độ của chúng ta. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh tự mạc khải trong cụm từ Lòng Thương Xót. Lòng Thương Xót chính là hành vi cuối cùng và chung cuộc mà với nó, Thiên Chúa sẽ gặp gỡ chúng ta. Lòng Thương Xót chính là quy luật nền tảng mà nó được bảo quản trong con tim của bất cứ một con người nào, và xác định cái nhìn khi một người nhìn ngắm một cách chân thành đối với người anh em và chị em của mình, tức những người mà họ gặp gỡ trên hành trình cuộc sống. Lòng Thương Xót chính là con đường mà nó gắn kết Thiên Chúa và con người lại với nhau, vì Lòng Thương Xót mở con tim ra cho niềm hy vọng trước việc chúng ta sẽ vẫn được yêu thương mãi mãi, bất chấp sự giới hạn vì tội lỗi của chúng ta.

3. Có những khoảnh khắc mà trong đó chúng ta được kêu gọi hướng cái nhìn lên Lòng Thương Xót với một cách thức hoàn toàn đặc biệt, và qua đó tự trở nên những dấu chỉ đầy công hiệu đối với hành động của Thiên Chúa Cha. Chính vì thế, Cha công bố một năm Toàn Xá ngoại thường về Lòng Thương Xót. Năm Toàn Xá này nên trở thành thời gian ân sủng đới với Giáo hội, và giúp làm cho chứng tá của các tín hữu trở nên mạnh mẽ và hiệu năng hơn.

Năm Thánh sẽ được khai mạc vào ngày mồng 08 tháng 12, tức ngày Đại Lễ kính Đức Tring Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội và là Thân Mẫu của Thiên Chúa. Phụng Vụ của Đại Lễ này chỉ ra cho thấy, Thiên Chúa đã hành động như thế nào kể từ lúc bắt đầu lịch sử của chúng ta. Sau sự sa ngã phạm tội của Ađam và Evà, Thiên Chúa đã không muốn bỏ rơi nhân loại một mình, cũng như đã không muốn phó mặc nhân loại cho sự ác. Vì thế, Ngài đã muốn và đã tuyển chọn Đức Maria, để làm cho Mẹ trở thành Mẹ của Đấng Cứu Độ nhân loại, một cách thánh thiện và không tì vết trong Tình Yêu (x. Ep 1,4). Thiên Chúa đã đáp trả lại sự nặng nề của tội lỗi bằng sự phong phú tràn trề của ơn tha thứ. Lòng Thương Xót luôn luôn vượt lên trên mọi mức độ của tội lỗi, và không ai có thể đặt ra những giới hạn cho Tình Yêu tha thứ của Thiên Chúa. Vào ngày Đại Lễ kính Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Cha sẽ có được niềm vui trong việc mở chiếc Cổng Thánh. Chiếc cổng này sẽ là một chiếc cổng của Lòng Thương Xót, và ai bước qua chiếc cổng này, người ấy sẽ có thể có được kinh nghiệm về Tình Yêu an ủi của Thiên Chúa, Đấng tha thứ và ban tặng niềm hy vọng.

Vào Chúa Nhật sau đó, tức Chúa Nhật thứ 3 Mùa Vọng, chiếc cổng Thánh trong nhà thờ Chính Tòa Rô-ma, tức trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Gio-an Lateran, cũng sẽ được mở ra. Rồi sau đó, tất cả các Cổng Thánh khác trong các Vương Cung Thánh Đường trực thuộc Giáo Hoàng tại Rôma, cũng sẽ được lần lượt mở ra. Cha ấn định rằng, tại tất cả các Giáo hội địa phương, hoặc là trong nhà thờ Chính Tòa, mà nhà thờ ấy là nhà thờ mẹ của tất cả các nhà thờ trong Giáo phận, hoặc là trong nhà thờ mà vốn trước kia nó đã từng là nhà thờ Chính Tòa, hoặc là trong một nhà thờ khác với tầm quan trọng nổi bật đối với suốt thời gian Năm Thánh, một cánh cổng Lòng Thương Xót cũng sẽ được mở ra như thế vào cùng ngày Chúa Nhật hôm đó. Đức Giám Mục Giáo phận có thể đưa ra quyết định về việc một cánh cổng như thế cũng sẽ được mở ra ngay tại các trung tâm hành hương mà những nơi đó có nhiều lữ khách đi tới. Đúng là tại những địa điểm thánh này, trong thực thế, nhiều người hành hương sẽ có được kinh nghiệm về ân sủng, mà ân sủng ấy gặp gỡ họ trong tâm hồn và dẫn đưa họ quay về. Như vậy, bất cứ Giáo hội địa phương nào cũng đều được đưa trực tiếp vào trong Năm Thánh này, và có thể sống Năm Thánh như là một khoảnh khắc ân sủng đặc biệt cũng như là khoảnh khắc của sự canh tân thiêng liêng. Vì thế, Năm Toàn Xá sẽ được cử hành tại cả Rôma lẫn tại các Giáo hội địa phương, và do đó, sẽ trở thành một dấu chỉ rõ rệt về sự hiệp thông của toàn Giáo hội.

4. Cha chọn ngày mồng 08 tháng 12 làm ngày khai mạc của Năm Thánh, vì ngày này có một ý nghĩa to lớn trong lịch sử gần đây của Giáo hội. Cụ thể là Cha sẽ mở Cổng Thánh đúng năm mươi năm sau ngày bế mạc Công đồng Chung Vatican II. Giáo hội cảm thấy cần phải giữ cho khoảnh khắc ấy được sống động. Đối với Giáo hội, một con đường mới đã bắt đầu trong lịch sử của mình kể từ hồi ấy. Các Nghị Phụ của Công Đồng đã cảm thấy một cách mạnh mẽ – như một luồng gió thực sự của Chúa Thánh Thần – về việc cần thiết phải nói chuyện với con người sống trong thời đại các Ngài, bằng một cách thế dễ hiểu hơn của Thiên Chúa. Những bức tường mà chúng đã nhốt Giáo hội quá lâu trong một pháo đài được ban đặc quyền, sẽ bị giật sập, và đã đến lúc phải công bố Tin Mừng theo một phương cách mới. Một chặng mới của việc loan báo Tin Mừng càng ngày càng được mong chờ để được hoàn tất, giờ đây đã bắt đầu. Một trách vụ mới đối với tất cả các Ki-tô hữu chính là việc làm chứng cho Đức Tin của mình với niềm hăng hái được củng cố và với tất cả sức thuyết phục. Giáo hội cảm thấy có trách nhiệm trong việc phải trở nên dấu chỉ sống động cho Tình Yêu của Thiên Chúa Cha ở giữa trần gian.

Ở đây, những lời mang đầy ý nghĩa của Đức Gio-an XXIII chợt đến với chúng ta. Đó là những lời mà Ngài đã nói lúc khai mạc Công Đồng: “Đối với thời đại hôm nay, Tân Nương của Chúa Kitô yêu thích sử dụng phương dược chữa lành của Lòng Thương Xót hơn là những khí giới của sự nghiêm khắc. […] Vì thế, trong lúc giơ cao ngọn đèn chân lý Đức Tin Công Giáo thông qua Công Đồng chung này, Giáo hội Công Giáo muốn biểu lộ như là một người mẹ đầy tình yêu thương, tốt lành và kiên nhẫn đối với tất cả, đầy Lòng Thương Xót và với mối cảm thông dành cho con cái của mình, mà những người con ấy đang bị chia tách khỏi Giáo hội”. Chân Phúc Phaolô VI cũng đi trên cùng một tuyến, khi Ngài tuyên bố bế mạc Công Đồng: “Hơn nữa, chúng ta muốn nhấn mạnh rằng, tôn giáo của Công Đồng này chính là Đức Ái đối với tha nhân […] Một làn sóng thiện cảm và kính trọng đối với thế giới hiện đại đã tỏa ra từ Công Đồng này. Tất nhiên, những ngộ nhận sẽ không được tán thành, bổn phận đối với Đức Ái là điều cần thiết, và không phải là ít cần tới hơn bổn phận đối với chân lý. Nhưng đối với con người thì chỉ có sự khích lệ, sự kính trọng và Tình Yêu. Thay vì đưa ra những lượng giá nhằm gây kinh ngạc, Công Đồng đã giới thiệu một phương dược đầy khích lệ; thay vì hướng về những dự cảm đen tối, Công Đồng đã hướng sứ điệp tin tưởng đến với thế giới đương đại. Những giá trị của thế giới không chỉ được tôn trọng, nhưng thậm chí còn được trân kính, và những cố gắng của họ được hỗ trợ, những nỗ lực của họ được cải tiến và được chúc phúc. […] Nhưng còn một điều khác nữa mà chúng ta muốn vạch ra ở đây: Tất cả sự phong phú có tính lý thuyết ấy đều có một mục đích duy nhất, và cụ thể đó là việc phục vụ con người. Và thực ra, chúng ta được phép nói với con người như thế, trong bất cứ hoàn cảnh sống nào, trong tất cả những bệnh tật và trong tất cả mọi nhu cầu của họ.”

Hoàn toàn biết ơn đối với điều mà Giáo hội đã lãnh nhận, và hoàn toàn có trách nhiệm đối với sứ mạng đang đứng trước chúng ta, chúng ta sẽ bước qua Cổng Thánh. Chúng ta sẽ thực hiện điều đó trong niềm tin tưởng tràn đầy rằng, sức mạnh của Đấng Phục Sinh sẽ tiếp tục đồng hành với chúng ta trong cuộc lữ hành của chúng ta. Cầu xin Chúa Thánh Thần, Đấng dẫn dắt những bước đi của các tín hữu đến với sự cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa Ki-tô, ban cho dân Chúa sự hỗ trợ và sự đồng hành, và giúp dân Chúa chiêm ngưỡng Dung Nhan Lòng Thương Xót.

5. Năm Toàn Xá sẽ kết thúc vào ngày 20 tháng 11 năm 2016 với Chúa Nhật kính Chúa Ki-tô Vua. Nếu vào ngày ấy, chúng ta đóng những Cổng Thánh lại, thì cảm giác về sự trung thành đầy biết ơn của chúng ta đối với Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh sẽ được xác định rằng, Cổng Thánh đã trao tặng chúng ta một thời gian ân sủng đặc biệt. Chúng ta sẽ trao phó đời sống của Giáo hội, toàn thể nhân loại và vũ trụ mênh mông cho quyền thống trị của Chúa Ki-tô với lời khẩn cầu, xin Lòng Thương Xót của Ngài tự đặt mình vào trong lịch sử như giọt sương lúc ban mai, và xin Lòng Thương Xót ấy làm cho lịch sử được đơm bông kết trái với sự dấn thân của tất cả mọi người cho tương lai ngay trước mắt. Cha mong muốn biết là chừng nào, ước chi những năm tới đây sẽ được lách vào bởi Lòng Thương Xót, và ước chi chúng ta sẽ đi đến với tất cả mọi người và mang đến cho họ sự tốt lành cũng như sự dịu hiền của Thiên Chúa! Ước chi tất cả mọi người, cả các tín hữu lẫn những người đang đứng xa đều có thể trải nghiệm về dầu thơm Lòng Thương Xót, như là dấu chỉ của Triều Đại Thiên Chúa, mà Triều Đại này đang hiện diện giữa chúng ta rồi.

6. “Để cho Lòng Thương Xót điều khiển chính là một nét đặc trưng chính yếu của Thiên Chúa. Quyền năng của Ngài được biểu lộ ngay trong đó.” Những lời này của Thánh Thomas Aquinô chỉ ra cho thấy Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, đúng ra không phải là một dấu chỉ của sự yếu nhược, nhưng là một nét đặc trưng nơi quyền năng của Ngài. Chính vì thế, trong một lời Tổng Nguyện cổ xưa nhất, Phụng Vụ đã cầu nguyện như sau: “Lạy Thiên Chúa là Đấng cao cả vô song, Chúa đã mạc khải về quyền năng của Chúa trước hết là trong Lòng Thương Xót và trong sự khoan dung.” Thiên Chúa luôn luôn hiện diện trong lịch sử nhân loại với tư cách là Đấng gần gũi, Đấng chăm lo, Đấng Cứu Độ và Đấng Xót Thương.

Bản tính của Thiên Chúa đã được mô tả một cách thường xuyên trong Cựu Ước với một cặp từ “nhẫn nại và xót thương”. Lòng Thương Xót của Ngài biểu lộ một cách cụ thể trong nhiều khoảnh khắc của lịch sử cứu độ, nơi đó, sự tốt lành của Ngài rốt cục đã chiến thắng hình phạt và sự hủy diệt. Các Thánh Vịnh đã diễn tả một cách đặc biệt về sự vĩ đại này trong hành động của Thiên Chúa. Ngài chính là “Đấng tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh tật ngươi. Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà” (Tv 103, 3-4). Với cách thức rõ ràng hơn, một Thánh Vịnh khác còn liệt kê ra những dấu chỉ của Lòng Thương Xót: “Xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn. Chúa giải phóng những ai tù tội, Chúa mở mắt cho kẻ mù loà. Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, Chúa yêu chuộng những người công chính. Chúa phù trợ những khách ngoại kiều, Người nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân” (Tv 146, 7-9). Và để kết thúc, còn có một lời nữa của Vịnh Gia: “Người chữa trị bao cõi lòng tan vỡ, những vết thương, băng bó cho lành. […] Kẻ thấp hèn, Chúa nâng đỡ dậy, bọn gian ác, Người hạ xuống đất đen” (Tv 147,3.6). Tóm lại, chúng ta có thể nói, Lòng Thương Xót của Thiên Chúa không phải là một ý tưởng trừu tượng, nhưng là một thực tại cụ thể, nhờ đó, Ngài mạc khải Tình Yêu của Ngài như là Tình Yêu của một người cha và của một người mẹ mà con cái của họ nằm sâu trong con tim của họ. Đó thực sự là một Tình Yêu mãnh liệt. Tình Yêu ấy đến từ tận nơi sâu kín nhất và thẳm sâu nhất, nhưng tất nhiên là được thúc đẩy bởi sự trìu mến và bởi sự cảm thông, bởi lòng khoan nhân và bởi sự tha thứ.

7. “Vì muôn Ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” – Điệp khúc này vang lên sau mỗi câu của Thánh Vịnh 136. Thánh Vịnh này ca ngợi lịch sử mạc khải của Thiên Chúa. Trong ánh sáng Lòng Thương Xót, bản chất của ơn cứu độ tỏa sáng trong mọi biến cố của lịch sử dân Giao Ước. Lòng Thương Xót làm cho lịch sử của Thiên Chúa với Israel trở thành một lịch sử cứu độ. Với việc lập đi lập lại liên tục của điệp khúc này: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”, có vẻ như Thánh Vịnh này muốn xuyên thủng chu kỳ tuần hoàn của không gian và thời gian, bằng cách là Thánh Vịnh ấy đặt tất cả vào trong mầu nhiệm Tình Yêu vĩnh cửu. Đó là điều mà Thánh Vịnh này muốn nói, con người không chỉ tồn tại trong quá khứ, nhưng trong sự vĩnh cửu dưới ánh mắt đầy nhân hậu của Thiên Chúa Cha. Vì thế, việc dân Israel đặt Thánh Vịnh này, tức lời đại ngợi ca, vào trong Phụng Vụ của ngày Đại Lễ quan trọng nhất của mình, không hề là sự ngẫu nhiên.

Chính Chúa Giêsu cũng đã cầu nguyện bằng Thánh Vịnh về Lòng Thương Xót này trước cuộc khổ hình của Ngài. Tác giả Tin Mừng Mátthêu đã thuật lại về điều đó khi Ngài mô tả về việc Chúa Giêsu và các môn đệ đã đi lên núi Cây Dầu “sau khi hát Thánh Vịnh” như thế nào (Mt 26,30). Trong khi Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể như là sự tưởng nhớ tới Ngài cũng như tưởng nhớ tới mầu nhiệm Phục Sinh một cách vững bền, một cách tượng trưng, Ngài đã đặt hành vi mạc khải cao nhất này vào trong ánh sáng của Lòng Thương Xót. Trong cùng viễn tượng về Lòng Thương Xót, Chúa Giêsu đã sống cuộc khổ hình và cái chết của Ngài, trong niềm ý thức trọn vẹn về mầu nhiệm vĩ đại của Tình Yêu, mà mầu nhiệm ấy đã diễn ra trên Thập Giá. Việc biết được rằng, chính Chúa Giêsu đã cầu nguyện bằng Thánh Vịnh này, làm cho Thánh Vịnh ấy trở nên quan trọng đối với chúng ta hơn, và mời gọi chúng ta làm cho Thánh Vịnh ấy trở thành một phần trong lời cầu nguyện ngợi ca hằng ngày của chúng ta. “Vì muôn Ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương!”

8. Nếu chúng ta ngước mắt nhìn lên Chúa Giêsu và ngước mắt nhìn lên dung nhan nhân hậu của Ngài, chúng ta sẽ thấy được Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh. Sứ mạng mà Chúa Giêsu đã nhận lãnh từ Chúa Cha, chính là điều mạc khải về mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa trong sự viên mãn của Ngài. “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8.16), Thánh sử Gio-an đã xác nhận như thế lần đầu tiên và là một lần duy nhất trong toàn bộ Kinh Thánh. Tình Yêu này rõ ràng và trở nên cụ thể trong toàn bộ cuộc sống của Chúa Giê-su. Ngôi vị của Ngài không phải là bất cứ điều gì khác ngoài Tình Yêu, một Tình Yêu tự hiến. Những mối tương quan của Ngài đối với con người, tức những mối tương quan bao quanh con người, chính là mối tương quan duy nhất và không thể sao chép. Những dấu chỉ của Ngài, chẳng hạn như đối với các tội nhân, với những người nghèo, những người bị đẩy ra bên lề, các bệnh nhân và những người đau khổ, chính là một bài học về Lòng Thương Xót. Tất cả trong Ngài đều nói về Lòng Thương Xót. Không có bất cứ điều chi trong Ngài mà không phải là sự chạnh thương. Khi Chúa Giê-su thấy nhiều người đi theo Ngài đang bị mệt mỏi và kiệt sức, bị bỏ rơi và như đoàn chiên không có chủ chăn, Ngài đã chạnh lòng thương họ với nỗi cảm thông sâu xa trong con tim của Ngài (x. Mt 9,36). Trong sức mạnh của Tình Yêu cảm thông, Ngài đã chữa lành các bệnh nhân mà người ta mang đến cho Ngài (x. Mt 14,14), và với một ít chiếc bánh mì và vài con cá, Ngài đã làm cho nhiều người được no nê (xc. Mt 15,37). Điều đã thúc đẩy Chúa Giêsu trong tất cả những tình huống đó, không phải là bất cứ điều gì khác ngoài Lòng Thương Xót, với sự giúp đỡ dành cho con người, Chúa Giêsu đã hiểu để đọc ra những gì đang có trong tâm hồn của những người đang đối diện với Ngài, và điều ấy đã cho phép Ngài đáp ứng lại những nhu cầu chân thực nhất của họ. Khi Ngài gặp bà góa thành Naim, người đang tiễn đứa con duy nhất của mình tới mộ, Ngài đã cảm thấy có một sự đồng cảm mạnh mẽ với sự đau đớn khôn cùng này của một người mẹ đang than khóc đứa con của mình, đến độ Ngài đã làm cho người con ấy được phục sinh từ cõi chết và trao người con này lại cho bà (x. Lc 7,15). Sau đó, Ngài đã trừ quỷ cho một người bị quỷ ám tại Ghe-ra-sa, và đã trao cho anh ta một sứ mạng: “Anh cứ về nhà với thân nhân, và loan tin cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế nào.” (Mc 5,19). Ngay cả ơn gọi của Mátthêu cũng đã diễn ra trước viễn tượng Lòng Thương Xót. Khi Chúa Giê-su đi ngang qua trạm thu thuế, Ngài đã đưa mắt nhìn Mátthêu. Đó là ánh mắt của Lòng Thương Xót, ánh mắt ấy đã tha thứ mọi tội lỗi cho con người này. Ngài đã tuyển chọn ông với một cách thức khác hẳn với các môn đệ khác, vì ông là một tội nhân và là một quan chức ngành thuế, và đã làm cho ông trở thành một trong mười hai Tông Đồ. Thánh Bêđa đáng kính đã viết trong phần chú giải của Ngài về chương Tin Mừng này rằng, Chúa Giêsu đã ngắm nhìn và đã tuyển chọn Mátthêu với Tình Yêu đầy Lòng Xót Thương: miserando atque eligendo (Chạnh Lòng Thương và Tuyển Chọn). Lời này đã gây ấn tượng rất mạnh cho Cha, đến độ Cha đã chọn nó làm phương châm của mình.

9. Trong những dụ ngôn nói về Lòng Thương Xót, Chúa Giêsu đã mạc khải bản tính Thiên Chúa như là bản tính của một người Cha, mà người Cha này sẽ không bao giờ bỏ cuộc nếu như trước đó đã không tha thứ hết mọi tội lỗi và vượt lên trên sự khước từ với sự cảm thông và Lòng Thương Xót. Chúng ta biết về những hình ảnh này từ ba dụ ngôn hoàn toàn đặc biệt: Dụ ngôn về con chiệc lạc, dụ ngôn về đồng bạc được tái tìm thấy, và dụ ngôn về người cha với hai đứa con trai của ông (x. Lc 15,1-32). Trong những dụ ngôn ấy, niềm vui của người cha trong phút giây tha thứ được nhấn mạnh một cách đặc biệt. Trong những dụ ngôn này, chúng ta thấy được điều cốt lõi của Tin Mừng và của Đức Tin chúng ta, vì Lòng Thương Xót được giới thiệu như là sức mạnh vượt thắng tất cả, sức mạnh ấy lấp đầy con tim với niềm vui và sự ủi an thông qua sự tha thứ.

Từ một dụ ngôn khác, chúng ta nhận được một giáo huấn đối với đời sống Ki-tô giáo đích thực của chúng ta. Được khơi lên bởi câu hỏi của Thánh Phê-rô, người muốn biết về việc người ta phải thường xuyên tha thứ như thế nào, Chúa Giê-su đã trả lời: “Không phải bảy lần, mà là bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22), và Ngài khóa lại điều đó bằng một dụ ngôn về “tên đầy tớ không có lòng thương”. Khi viên đầy tớ này cần phải trả lại cho chủ của mình một khối tài sản khổng lồ, anh ta đã quỳ gối xuống van xin chủ, và người chủ đã tha nợ cho anh ta. Ngay sau đó, anh ta gặp một người đầy tớ khác, người này đang nợ anh ta một vài xu. Người này cũng quỳ gối xuống để van xin anh ta thương xót, nhưng anh ta khước từ và bắt nhốt người đầy tớ ấy trong tù. Khi người chủ hay tin về chuyện đó, ông đã đùng đùng nổi giận, truyền cho tên đầy tớ đó tới và nói với anh ta: “Hỡi tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, chẳng lẽ ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?” (Mt 18,32-33). Và Chúa Giê-su thêm vào: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18,35).

Dụ ngôn này chứa đựng một giáo huấn sâu sắc đối với mỗi người chúng ta. Chúa Giêsu đã xác định rằng, Lòng Thương Xót không phải chỉ là một nét đặc trưng nơi hành động của Thiên Chúa. Nói cho đúng hơn, Lòng Thương Xót còn là tiêu chuẩn, mà nhờ đó người ta nhận ra những ai thực sự là con Thiên Chúa. Như vậy, chúng ta được kêu gọi để thực thi Lòng Thương Xót, bởi chính Lòng Thương Xót cũng đã được biểu lộ với chúng ta rồi. Sự tha thứ cho sự bất công đã mắc phải chính là một sự diễn tả rõ ràng nhất về Tình Yêu nhân hậu, và đối với các Ki-tô hữu chúng ta, nó trở thành một mệnh lệnh mà chúng ta không thể khước từ. Việc càng ngày càng phải tha thứ thật khó khăn biết chừng nào! Thế nhưng, sự tha thứ lại là một nhạc cụ được đặt vào trong đôi tay yếu đuối của chúng ta để chúng ta tìm thấy được sự bình an của tâm hồn. Việc để lại đàng sau chúng ta sự oán hận, cơn tức giận và sự báo thù chính là một điều kiện cần thiết đối với một cuộc sống hạnh phúc. Vì thế, chúng ta hãy đón nhận lời khuyên của Thánh Tông Đồ: “Chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4, 26). Và trước hết, chúng ta hãy nghe Lời của Chúa Giê-su, Đấng đã làm cho Lòng Thương Xót trở thành một lý tưởng sống cũng như trở thành tiêu chuẩn cho sự chính xác nơi việc làm chứng của Đức Tin chúng ta: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7) – đó là mối phúc mà chúng ta nên để cho mình được khích lệ trong Năm Thánh này với sự hy sinh đặc biệt.

Như người ta thấy, Lòng Thương Xót chính là một từ khóa trong Kinh Thánh để mô tả về hành động của Thiên Chúa đối với chúng ta. Ngài không tự giới hạn trong việc cam đoan về Tình Yêu của Ngài, nhưng Ngài làm cho Tình Yêu ấy trở nên rõ ràng và cụ thể. Trong thực tế, Tình Yêu không bao giờ trở thành một thuật ngữ trừu tượng. Tự bản chất của mình, Tình Yêu luôn luôn là một thực tế cụ thể: những dự định, những quan điểm và những thái độ mà chúng ta chứng tỏ thái độ của mình trong cuộc sống hằng ngày. Lòng Thương Xót của Thiên Chúa phát xuất từ trách nhiệm của Ngài đối với chúng ta. Có nghĩa là Ngài cảm thấy Ngài có trách nhiệm. Ngài muốn điều tốt lành cho chúng ta, và Ngài muốn được nhìn thấy chúng ta hạnh phúc, tràn đầy niềm vui và thanh thản. Tình Yêu nhân hậu của các Ki-tô hữu cũng phải nằm trên một bước sóng như thế. Người Cha yêu thương thế nào thì con cái cũng phải yêu thương thể ấy. Nếu như Thiên Chúa là Đấng Thương Xót thì chúng ta cũng được kêu gọi để xót thương nhau.