ĐẠO THIỆP THẾ QUAN NHÂN (P.1)

5 /5
1 người đã bình chọn
Đã xem:  | Cập nhật lần cuối: 2014-07-14 00:14:21  | RSS

ĐẠO THIỆP THẾ , QUAN NHÂN

- Thiệp thế có nghĩa là : giao thiệp với đời ; góp mặt với đời ; thông thạo việc đời.

- Quan nhân: là xem xét để biết người hay kẻ dở, kẻ khôn người dại. Muốn vậy cần xem xét tường tận tâm can mỗi người.

Không biết cân lường cẩn thận lúc ban đầu, công việc tưởng tốt té ra hóa xấu. Công việc ở đời nhất thiết phải cẩn thận lúc ban đầu.

Thầy Tăng tử nói : Ta thường ngày xét mình ba việc. (ngô nhật tam tỉnh ngô thân)

* Khi giúp đỡ ai điều gì mà không hết lòng không ? (vị nhân mưu, nhi bất trung hồ)

* Bầu bạn cùng ai mà không tin cẩn chăng ? (dữ bằng hữu giao nhi bất tín hồ)

* Dạy ai điều gì mà mình không tập luyện không? (Truyền, bất tập hồ). Người ta học với mình chẳng chỉ bằng lời nói mà còn bằng chính khuôn mẫu nơi mình.

Đạo thiệp thế phải hết sức tránh cái bất trung, bất tín, bất tập. Nếu có, phải gắng sửa ngay ; không có, càng gắng tập hơn !

Thầy Tử Cống hỏi : “Ở cảnh đói nghèo mà không nịnh nọt người phú quí (bần nhi vô siểm) ở vào cảnh giầu sang mà không kiêu với những người nghèo hèn (phú nhi vô kiêu) người đó thế nào ?” Đức Khổng phu tử nói :“ Cũng đã là người khá nhưng chưa bằng hạng người : dầu đói nghèo mà quên cả đói nghèo chỉ vui với đạo lí (bần nhi lạc) ; giầu mà quên cả giầu chỉ ham lễ làm những việc phải (phú nhí hiếu lễ). Sánh với người vô siểm, vô kiêu còn cao hơn nhiều.

Ở đời ít ai tránh khỏi ảnh hưởng của hoàn cảnh : hoàn cảnh tốt hay xấu cũng ghi lại dấu ấn trên nhân cách của con người. Gặp cảnh nghèo mà sinh nịnh nọt tất người đời khinh chê; gặp cảnh giầu mà kiêu sa thời người đời ghét. Chỉ duy người bần không siểm, phú không kiêu thì không ai khinh, ghét được! Nhưng như thế cũng mới chỉ là hạng người biết tự chủ mà thôi. Duy hạng người “bần nhi lạc”, “phú nhi hiếu lễ” mới có nhân cách thật cao thượng. Đức Thánh còn nói :“ Bần nhi vô oán, nan ; phú nhi vô kiệu, dị”, nghèo mà không oán trách: khó ; giầu mà không kiêu : dễ ! Nghèo mà lòng không bực tức, buồn rầu thật rất hiếm có bởi vì người ấy ở vào nghịch cảnh, khó xử. Khó xử mà xử tốt mới là khó. Còn người giầu mà không kiêu là ở vào thuận cảnh không khó, dễ xử nên nói là dễ !

Ông Bá Di, Thúc Tề là những người rất thanh cao, đối đãi với người ta rất khoan thứ. Người có điều gì xấu nhưng đã qua lâu hoặc đã thay đổi được thì chỉ xem người ấy như người tốt, không nghĩ đến điều xấu cũ nữa. Vì vậy ít ai oán giận.

Đức Thánh nói : tự nơi mình thì làm cho thật hẳn hoi, còn đối với người thì chớ quá trách móc. Dầu người ta có lỗi mà không tổn hại đến mình thì nên bỏ ngơ. Nếu hại đến mình cũng chỉ nên trách qua thôi. Như thế không ai oán giận mình, tránh được những thù oán.“Cung tự hậu” (hết sức với mình) là để tu thân chứ không phải tự tư tự lợi. “ Nhi bạc trách ư nhân” là với người thì khoan dung rộng rãi chứ không phải không mong cho người “thành” đâu. Phải đủ cả hai thì mới tránh được thù oán (tắc viễn oán hỉ)

Vấn đề báo đức, báo oán giữa Lão tử và Khổng tử có phần hơi khác biệt. Quan điểm của Lão tử nếu xét sơ qua thì có phần giống với Kitô giáo :“ dầu có ai thù oán mình, mình cũng chỉ đối đãi như người có ân huệ !”. Còn với Đức Khổng tử thì có phần rạch ròi, phân minh hơn. Ngài nói : đạo lí trong thiên hạ chỉ vừa đúng và phải mới hay. Thái qúa cũng như bất cập đều không hay. Kitô giáo cũng có nguyên tắc : nhân đức phải trung dung (đứng ở giữa !). Xử cho công bình, hoàn thiện thật khó. Phải tìm một giải pháp để “ đắc trung” nghĩa là không mất đi sự đúng mực cần phải có. Với người có oán với ta thì lấy sự công bình, ngay thẳng mà đối đáp; với người có đức với ta thì lấy đức đáp lại. Vấn đề này đi vào thực tế thật khó, làm sao không qúa bạc với người oán, và với người đức cũng phải vừa hậu ! Có thể nói việc thực hành như vậy khó chẳng kém gì việc coi mọi người như là có ân huệ như chủ trương của Lão tử.

Đường trắc trở, lòng người hiểm sâu làm sao tránh được hết thù oán. Oán có thể do người nhưng cũng có thể do mình tự gây ra. Nếu chúng ta cố gắng sống và tránh hét sức mầm mống gây ra thù oán thì làm sao gây ra thù oán được. Vậy muốn tránh những mầm thù oán thì nên thận trọng trong nhân cách của chính mình.

Trong cuộc giao tế có nhũng hạng người tâm thuật hiểm ác, xấu xa nhưng lại dùng dáng vẻ bề ngoài để che đậy. Lời nói thì nhanh chai, khéo léo (xảo ngôn) ; sắc mặt thì trau chuốt, lòe loẹt (lịnh sắc); cử chỉ siểm nịnh (tú cung). Hoặc dù lòng thù oán nhưng lại dấu nhẹm (nặc oán) và giả bộ bầu bạn thân tình với người kia (nhi hữu kì nhân). Nhân cách như vậy xấu thẹn lắm, không bao giờ nên làm thế.

Lại có hạng người không bao giờ thấy nghĩa mà chỉ thấy lợi. Dĩ nhiên ở đời có nghĩa thì cũng có lợi, nhưng lợi phải từ gốc nghĩa mà ra thì không ai oán. Người chỉ nghĩ đến lợi cho mình trước rồi để phần hại cho người khác (điều này thường thấy !) thì là người ích kỉ, tổn đức nhân, họ sẽ chuốc oán nhiều lắm (phỏng ư lợi nhi hành, đa oan).

Có một nhận xét mà chúng ta thấy có vẻ không hợp thời nay mấy, tuy vậy xét kĩ cũng không phải là không có lí. Đó là thái độ đối với phụ nữ và người tôi tớ. Đối với hai hạng người này gần gũi với họ qúa sẽ sinh lờn và bất kính gọi là bất tốn (cận chi tắc bất tốn). Còn nếu có ý ghét bỏ, xa lánh thì lại gây mối hờn oán (viễn chi tắc oán).